Hexaconazole là hoạt chất có tính lưu dẫn thuộc nhóm conazole, được sử dụng trừ nhiều loại nấm hại của họ Ascomycetes và Basidiomycetes như: mốc sương, đốm lá, rỉ sắt, héo lá, khô vằn,…trên nhiều loại cây trồng khác nhau (rau, cây ăn quả, ngũ cốc, chè, hoa và cây cảnh, ớt, đậu tương, lạc,…). 

Hoạt chất có tác dụng phòng và trừ. Hexaconazole tác động đến nấm hại bằng cách ức chế quá trình sinh tổng hợp ergosterol trong sợi nấm.

Hoạt chất cũng có hiệu lực cao trừ bệnh héo rũ (chết sớm) trên khoai tây, cà chua – Alternaria solani.

Alternaria solani trên lá cà chua. Alternaria solani trên than cà chua. Alternaria solani trên quả cà chua.

Người ta nhận thấy Hexaconazole 5SC có hiệu lực cao với bệnh khô vằn trên lúa (Rhizoctonia solani, Kuhn) và bênh đốm lá lạc (Phaeoisariopsis personata. Berk and Cilrt.). Hiệu lực của thuốc tăng theo các mức sử dụng (500, 1000, 1500 and 2000 ml/ ha).

Ở Ấn Độ Hexaconazole có hiệu lực cao trừ bệnh giả sương mai hại xoài (R.A. Chavan, V.D. Deshmukh, S.V. Tawande và J.D. Deshmukh. International Journal of Plant Propiconazoletection, Vol. 2 No. 1 : 71-72). Hexaconazole có thể kết hợp với Monocrotophos, Chlorpyriphos để trừ các loại sâu hại trên hai cây trồng này. Hexaconazole an toàn đối với trứng bị kinh sinh bởi các loại thiên địch Trichogramma chilonis và Chrysoperla carnea. 

(Mức dư lượng tối đa (MRL) theo The Japan Food Chemical Research Found  (mg/kg): 

Gạo: 0.02; Ngô: 0.02; Đậu tương: 0.05; Lạc: 0.05; Khoai tây: 0.02; Rau họ thập tự: 0.1; Bắp cải: 0.1; Xúp lơ: 0.02; Hành: 0.02; Tỏi: 0.05; Khoai tây: 0.02; Rau diếp: 0.02; Cà rốt: 0.1; Cà chua: 0.1; Dưa chuột: 0.05; Dưa hấu: 0.5; Dưa bở: 0.5; Cây có múi: 0.02; Dâu tây: 0.1; Chuối: 0.1; Đu Đủ: 0.5; Xoài: 0.5.