Hexythiazox  được sử dụng từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20 để trừ nhện hại cây trồng. Nó là thuốc trừ nhện phổ rộng (bao gồm: Etetranychus carpini, Tetranychus Urticae, Tetranychus McDanieli, Tetranychus pacificus, Tetranychus kanzawai, Tetranychus cinnabarinus, Panonycuhus ulmi, Panonychus citri, Brevipalpus lewwisi).

Hexythiazox có hiệu lực cao đối với các giai đoạn trứng, nhện non và cả nhộng. Tuy nhiên, nó không có khả năng diệt trưởng thành và dường như nó cũng không tác động đến khả năng đẻ trứng của con cái.

Khoảng nhiệt độ từ 15oC – 30oC là thích hợp cho tác động của hoạt chất đến trứng. Người ta nhận thấy rằng ở nhiệt độ 15oC thì thời gian trứng nở là 389 giờ, còn ở nhiệt độ 30oC thời gian nở là 78 giờ. Nhiệt độ cao là nguyên nhân tác động đến quá trình thâm nhập của hoạt chất vào trứng.  Với phạm vi nhiệt độ sử dụng lớn như trên đã cho phép sử dụng Hexythiazox quanh năm và cho cả những vùng cao có khí hậu thấp hơn các vùng khác.

Mức độ mẫn cảm của trứng nhện với Hexythiazox giảm theo độ tuổi của trứng. Độ mẫn cảm giảm dần từ 0 – 72 giờ sau đẻ. Từ 72 – 96 giờ sau đẻ, khả năng chống chịu của trứng tăng dần. Do đó việc xác định tuổi của trứng và thời gian nở là cần thiết cho việc xác lập thời gian xử lý thuốc có chứa Hexythiazox.

Hiệu lực của Hexythiazox  dường như phụ thuộc vào kiểu lá của từng loại cây. Do đó liều lượng và lượng nước dùng trong khi xử lý cũng cần phải được quan tâm. Hiệu lực của Hexythiazox phụ thuộc khá nhiều vào kiểu phun và lượng nước thuốc được phun trên cây trồng.

Hexythiazox có thể được sử dụng ở bất kỳ một giai đoạn nào của cây trồng từ mới trồng cho đến ra quả. Đôi khi với trường hợp phát sinh những lứa nhện muộn khi cây đã hình thành quả thì người ta vẫn có thể sử dụng 

Hexythiazox tác động đến quá trình đẻ trứng của những con cái thông qua con đường tiếp xúc và vị độc. Với những con nhện còn non có thể không chết tại quá trình phát triển đó những sẽ chết vào giai đoạn sinh trưởng sau đó (nhộng).

Hexythiazox có hiệu lực kéo dài. Trên nhện đỏ hại cam hiệu lực có thể kéo dài đến 70 ngày nhưng chỉ phải sử dụng lượng 25 – 50ppm (1ppm = 1/1triệu ml). Chính vì thế mà vào thời điểm thời tiết, khí hậu thích hợp khi vòng đời nhện ngắn thì hoạt chất có thể kéo dài đến thế hệ thứ 3. So với các hoạt chất khác thì Hexythiazox  có hiệu lực kéo dài và điều cốt yếu nó ảnh hưởng đến tốc độ đẻ của nhện, nó có thể diệt 90% số nhện (Sekulic, 1999).

Trong cây trồng, quá trình vận chuyển của Hexythiazox diễn ra ở mức tối thiểu. Trong phần thịt quả hay dịch trái cây người ta không phát hiện thấy dư lượng của hoạt chất. Trên bề mặt cây trồng , hoạt chất phân giải từ từ. Trong khoảng thời gian 30 – 90 ngày sau khi phun thì nó mới phân giải hết. Trong cơ thể động vật quá trình phân giải của Hexythiazox tương tự như trong cây trồng nhưng tốc độc nhanh hơn. Mức dư lượng thường thấp (0.005mg/kg). Trong đất hoạt chất bị phân giải thành Carbon dioxit.

Hoạt chất không tác động xấu đến các loài ăn thịt như Phytoseiulus persimilis, Oligota sp và ong. 

Hexythiazox rất độc với cá. Do đó khi phun cần phải cách mương, ao, hồ từ 15 – 20m để tránh thuốc rơi xuống nước (EFSA - European Food Safety Authority).

Mức dư lượng tối đa (MRL) theo Codex (mg/kg):

Cây có múi: 0.5; Cà tím: 0.1; Rau ăn quả, dưa chuột: 0.05mg/kg; Dâu tây: 6; Chè (đen, xanh): 15; Cà chua: 0.5; Mận, mơ: 1; Cây ăn quả (dạng quả hạch khác): 0.3.

Vòng đời của nhện