Indoxacarb là một hoạt chất thuộc nhóm Oxadiazine. Nó là kết quả của sự hỗn hợp hai đồng phân đối xứng (S:R). Tỷ lệ của hai đồng phân này quyết định độ độc của hoạt chất. Khả năng diệt trừ sâu hại thông qua con đường tiếp xúc và vị độc.
Indoxacarb có một cơ chế tác động đặc biệt, đó là nó tác động đến các ion Na+ (đây là ion của thần kinh ngoại biên có tác dụng truyền về thần kinh trung ương những xung động mà cơ thể sâu hại nhận được) một cách nhẹ nhàng và làm cho sâu chết sau một vài giờ. Hoạt chất có hiệu lực trừ nhiều loại sâu (sâu xanh, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng,…) trên những cây trồng khác nhau như rau, cà chua, ớt, cây ăn quả,…
Sau khi hấp thu hoạt chất vào cơ thể hoặc dính thuốc khi người ta phun, sâu hại nhanh chóng dừng ăn sau một vài phút và chậm nhất là sau 4 giờ. Nếu sử dụng với lượng cao nhất của hướng dẫn thì sâu nhanh chóng dừng ăn. Sâu di chuyển chậm chạp và run rẩy. Nhiệt độ cao thúc đẩy quá trình mất nước và tốc độ chết của sâu hại. Hiệu lực của hoạt chất kéo dài từ 4 đến 48 giờ phụ thuộc vào lượng sử dụng và khả năng xâm nhập vào cơ thể. Thông thường sâu chết sau 48 giờ.
Indoxacarb rất dễ bị hòa tan trong các chất béo, chính vì thế nó dễ bị hấp thu bởi lớp sáp của lá cây. Tốc độ và khả năng xâm nhập của nó phụ thuộc vào kiểu lá, lớp cutin của lá, giống cây, nhiệt độ, độ ẩm và các chất phụ trợ. Sự xâm nhập vào trong mô lá có thể diễn ra với các điều kiện thời tiết khác nhau.
Chính khả năng xâm nhập vào trong lá kể cả khi với hoạt chất được pha với lượng nước thấp đã giúp Indoxacarb không chịu ảnh hưởng bởi lượng nước mưa so với các hoạt chất khác. Vì vậy cho phép người sử dụng có thể linh hoạt trong việc sử dụng Indoxacarb trong phòng trừ, bất chấp mưa xuất hiện sau khi phun một vài giờ sau đó.
Trong đất Indoxacarb nhanh chóng bị phân giải chỉ có lượng rất nhỏ tồn tại trong đất (Singles, 2002, AMR 2803-93). Dư lượng Indoxacarb tồn tại đến 90 ngày. Người ta chỉ phát hiện một lượng nhỏ Indoxacarb trong lớp đất mặt (0 – 15cm).
Indoxacarb phân rã nhanh chóng trên bề mặt lá và bên trong lá, quả (thời gian phân giải này trung bình khoảng 18 ngày). Thậm chí trên lá rau diếp ngay trong ngày phun thuốc người ta chỉ thấy có < 50% dư lượng tồn tại trên bề mặt của lá và mức độ phân giải tăng lên trong những giờ sau đó. Hơn nữa với lượng sử dụng thấp đã làm cho Indoxacarb hầu như không ảnh hưởng xấu đến ký sinh, thiên địch có ở trong và ngoài vùng xử lý thuốc (Brugger, 1997).
Mức dư lượng tối đa (MRL) theo Codex (mg/kg):
Cà chua: 0.5; Bông cải xanh (súp lơ xanh): 0.2; Bắp cải: 3.0; Xúp lơ: 0.2; Rau ăn quả, dưa chuột: 0.5; Rau diếp: 3; Ớt: 0.3; Khoai tây: 0.02; Đậu tương: 0.5; Táo: 0.5.
Lá cây được phun Indoxacarb.
Lá cây không được phun IndoxaCarbendAzoxytrobinimb.