
Bọ trĩ (Thrips tabaci Lindeman) hay còn gọi là bọ đỏ là loại dịch hại phổ biến và quan trọng trên cây hành tây. Bọ trĩ có thể gây hại trên tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây. Tuy nhiên gây hại mạnh nhất là khoảng 30 ngày tuổi trở đi. Khi dịch hại xuất hiện với mật độ cao sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất củ.
![]() |
Hình 1: bọ trĩ hại hành
1. Nhận dạng
Bọ trĩ hại hành tây thuộc bộ cánh tơ (Thysanoptera), họ bọ trĩ (Thripidae). Kích thước từ 1 – 1.3mm. Thân có màu vàng đến nâu. Phần bụng có 7 đốt. Con cái có 1 máng đẻ trứng (ovipositor) ở cuối bụng.
![]() |
![]() |
Hình 2: Hình thái của bọ trĩ
- Chu kỳ sinh trưởng và phát triển gồm 3 giai đoạn:
+ Trứng: ban đầu có màu trắng đục sau đó chuyển sang màu da cam và nở sau 4 – 5 ngày.
+ Ấu trùng: có 2 tuổi và phát triển trong vòng 9 ngày.
+ Trưởng thành: sống được khoảng 3 tuần. Con cái đẻ trứng vào nách lá. Khả năng nở của trứng không phụ thuộc vào sự giao phối giữa đực và cái.
![]() |
| Hình 3: Vòng đời của bọ trĩ |
(1: Trưởng thành; 2: Trứng; 3: Sâu non tuổi 1; 4: Sâu non tuổi 2; 5: Tiền nhộng; 6: Nhộng; 7: Kiểu miệng của bọ trĩ)
2. Đặc điểm gây hại
Ấu trùng và trưởng thành gây hại bằng cách chích hút nhựa lá. Kết quả vùng lá bị hại có màu bạc với những đốm nâu. Lá bị hại có thể bị héo hoặc biến dạng. Do đó giảm khả năng quang hợp của cây.
![]() |
![]() |
Hình 4: Vết gây hại của bọ trĩ
3. Điều kiện phát sinh
Qua điều tra thực tế trong vụ Đông Xuân (từ tháng 12/2016 – 3/2017) ở huyện Đơn Dương (Lâm Đồng) cho thấy rằng trong điều kiện thời tiết nắng nhiều và khô hanh bọ trĩ phát sinh gây hại mạnh nhất. Mưa hạn chế bọ trĩ phát sinh gây hại.

Hình 5: Bọ trĩ xuất hiện nhiều khi trời hanh nắng
4. Biện pháp phòng trừ
Kết quả sử dụng thuốc hóa học trên các ruộng trồng hành tây ở địa phương trên, cùng với những chia sẻ của bà con nông dân có thể tiến hành các biện pháp sau để giảm thiểu sự gây hại của bọ trĩ:
+ Tưới nước và giữ ẩm cho ruộng.
+ Nên phun thuốc khi mật độ bọ trĩ ≥ 4 con/bụi.
+ Sử dụng luân phiên các loại thuốc không cùng nhóm hoạt chất.
+ Các loại thuốc có hoạt chất Thiamethoxam, Imidacloprid, Pymetrozine, Matrine, ... có hiệu quả phòng trừ cao.
Thuốc Matoko 50WG (Pymetrozine 50%) của CP Nông Dược Việt Nam, với liều lượng 15g/bình 25 lít, phun ướt đều mặt lá đã được cô Nguyễn Thị Trang (0972420***) ngụ tại thị trấn Thanh Mỹ (Đơn Dương), chú Đặng Văn Thoan (0915535***) và cô Nguyễn Thị Mai (01645752***) Lạc Xuân (Đơn Dương) đánh giá có hiệu lực > 90% trên diện tích thí nghiệm.
![]() |
![]() |

Hình 5: Các nông hộ sử dụng đánh giá cao hiệu quả thuốc Matoko 50WG (từ trái qua phải Cô Nguyễn Thị Mai, Cô Nguyễn Thị Trang và chú Đặng Văn Thoan)
Video
Người viết: Lê Trần Quốc Thịnh (Phòng Kỹ thuật)
2 Matoko 50WG - Rầy nâu hại lúa
.jpg)
Bọ trĩ (Thrips tabaci Lindeman) hay còn gọi là bọ đỏ là loại dịch hại phổ biến và quan trọng trên cây hành tây. Bọ trĩ có thể gây hại trên tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây. Tuy nhiên gây hại mạnh nhất là khoảng 30 ngày tuổi trở đi. Khi dịch hại xuất hiện với mật độ cao sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất củ.
![]() |
Hình 1: bọ trĩ hại hành
1. Nhận dạng
Bọ trĩ hại hành tây thuộc bộ cánh tơ (Thysanoptera), họ bọ trĩ (Thripidae). Kích thước từ 1 – 1.3mm. Thân có màu vàng đến nâu. Phần bụng có 7 đốt. Con cái có 1 máng đẻ trứng (ovipositor) ở cuối bụng.
![]() |
![]() |
Hình 2: Hình thái của bọ trĩ
- Chu kỳ sinh trưởng và phát triển gồm 3 giai đoạn:
+ Trứng: ban đầu có màu trắng đục sau đó chuyển sang màu da cam và nở sau 4 – 5 ngày.
+ Ấu trùng: có 2 tuổi và phát triển trong vòng 9 ngày.
+ Trưởng thành: sống được khoảng 3 tuần. Con cái đẻ trứng vào nách lá. Khả năng nở của trứng không phụ thuộc vào sự giao phối giữa đực và cái.
![]() |
| Hình 3: Vòng đời của bọ trĩ |
(1: Trưởng thành; 2: Trứng; 3: Sâu non tuổi 1; 4: Sâu non tuổi 2; 5: Tiền nhộng; 6: Nhộng; 7: Kiểu miệng của bọ trĩ)
2. Đặc điểm gây hại
Ấu trùng và trưởng thành gây hại bằng cách chích hút nhựa lá. Kết quả vùng lá bị hại có màu bạc với những đốm nâu. Lá bị hại có thể bị héo hoặc biến dạng. Do đó giảm khả năng quang hợp của cây.
![]() |
|
Hình 4: Vết gây hại của bọ trĩ
3. Điều kiện phát sinh
Qua điều tra thực tế trong vụ Đông Xuân (từ tháng 12/2016 – 3/2017) ở huyện Đơn Dương (Lâm Đồng) cho thấy rằng trong điều kiện thời tiết nắng nhiều và khô hanh bọ trĩ phát sinh gây hại mạnh nhất. Mưa hạn chế bọ trĩ phát sinh gây hại.

Hình 5: Bọ trĩ xuất hiện nhiều khi trời hanh nắng
4. Biện pháp phòng trừ
Kết quả sử dụng thuốc hóa học trên các ruộng trồng hành tây ở địa phương trên, cùng với những chia sẻ của bà con nông dân có thể tiến hành các biện pháp sau để giảm thiểu sự gây hại của bọ trĩ:
+ Tưới nước và giữ ẩm cho ruộng.
+ Nên phun thuốc khi mật độ bọ trĩ ≥ 4 con/bụi.
+ Sử dụng luân phiên các loại thuốc không cùng nhóm hoạt chất.
+ Các loại thuốc có hoạt chất Thiamethoxam, Imidacloprid, Pymetrozine, Matrine, ... có hiệu quả phòng trừ cao.
Thuốc Matoko 50WG (Pymetrozine 50%) của CP Nông Dược Việt Nam, với liều lượng 15g/bình 25 lít, phun ướt đều mặt lá đã được cô Nguyễn Thị Trang (0972420***) ngụ tại thị trấn Thanh Mỹ (Đơn Dương), chú Đặng Văn Thoan (0915535***) và cô Nguyễn Thị Mai (01645752***) Lạc Xuân (Đơn Dương) đánh giá có hiệu lực > 90% trên diện tích thí nghiệm.
![]() |
![]() |

Hình 5: Các nông hộ sử dụng đánh giá cao hiệu quả thuốc Matoko 50WG (từ trái qua phải Cô Nguyễn Thị Mai, Cô Nguyễn Thị Trang và chú Đặng Văn Thoan)
Video
Người viết: Lê Trần Quốc Thịnh (Phòng Kỹ thuật)
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2019
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) được đánh giá là một trong những dịch hại quan trọng nhất trên cây lúa hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp các vùng trồng lúa trên thế giới. Rầy nâu không chỉ gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch cây lúa làm cản trở quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa ma nguy hại hơn, chúng còn là tác nhân môi giới lây truyền các loại virus rất nguy hiểm trên cây lúa, trong đó hiện nay là virus vàng lùn, lùn xoắn lá. Do vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học của rầy nâu là một trong những bước cần thiết để phòng trừ rầy nâu đạt hiệu quả cao.
1. Tổng quan
Rầy nâu tên khoa học là : Nilaparvata lugens Stal. Thuộc họ: Delphacidae. Bộ: Homoptera
1.1 Đặc điểm hình thái
- Trứng rầy nâu có dạng ”quả chuối tiêu”, mới đẻ trong suốt, gần nở chuyển màu vàng và có hai điểm mắt đỏ. Trứng rầy nâu đẻ thành từng ổ từ 5 - 12 quả nằm sát nhau theo kiểu ”úp thìa”, đầu nhỏ quay vào trong, đầu to quay ra ngoài biểu bì ngoài của bẹ lá.
- Rầy non rất linh hoạt, mới nở có màu xám trắng, tuổi 2 - 3 trở lên có màu nâu vàng, trong điều kiện mật độ cao có màu nâu sẫm.
- Con trưởng thành có màu nâu tối, con đực nhỏ hơn con cái. Có 2 dạng rầy trưởng thành: loại cánh dài và loại cánh ngắn.
|
|
|
|
Trứng rầy nâu Rầy non |
|
|
|
|
|
Rầy trưởng thành cánh dài Rầy trưởng thành cánh ngắn |
1.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại
.jpg)
Vòng đời của rầy nâu từ 25 - 30 ngày và thay đổi theo mùa.
+ Thời gian trứng: 3 - 5 ngày.
+ Thời gian rầy non: 12 - 13 ngày.
+ Thời gian rầy trưởng thành: 10 - 12 ngày.
- Rầy cái trưởng thành có thể đẻ 150 - 250 trứng và có tính hướng sáng mạnh. Con trưởng thành và rầy non đều hút nhựa cây từ dảnh và lá lúa. Rầy nâu xâm nhập vào ruộng lúa ngay từ khi mới cấy và hại cả trên mạ. Rầy nâu phát sinh với mật độ cao và gây hại nặng vào giai đoạn trước lúc lúa trỗ bông, ngậm sữa và bắt đầu chín.
- Lúa thời kỳ đẻ nhánh nếu bị hại thì hình thành các vết màu nâu đậm, nếu bị hại nặng thì làm cho cây vàng còi cọc, khô héo và chết.
- Lúa thời kỳ làm đòng, trỗ bông nếu bị rầy gây hại với mật độ cao, làm cây khô héo, hạt và bông lép đen một phần hoặc cả bông.
- Khi lúa bị gây hại đồng thời tạo điều kiện cho nấm, bệnh xâm nhập làm cây thối nhũn, đổ rạp có thể lan rộng ra cả ruộng, cả cánh đồng nếu không phòng trừ kịp thời.
2. Tập quán sinh sống và quy luật gây hại
- Rầy trưởng thành thường tập trung thành từng đám ở thân cây lúa phía dưới khóm, khi bị khua động thì lẩn trốn bằng cách bò ngang hoặc nhảy sang cây khác.
- Ban ngày rầy trưởng thành ít hoạt động trên lá lúa, chiều tối bò lên phía trên thân và lá lúa. Khi lúa ở thời kỳ chín, phần dưới của thân cây đã cứng khô thì ban ngày rầy tập trung phía trên cây hoặc gần chỗ non, mềm của cuống bông để hút nhựa.
- Sự xuất hiện rầy dạng cánh dài và cánh ngắn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng. Khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, thức ăn phong phú thì xuất hiện dạng cánh ngắn nhiều.
- Nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, thức ăn không thích hợp thì xuất hiện dạng cánh dài nhiều.
- Rầy dạng cánh ngắn có tuổi sống dài, tỷ lệ đực cái cao, số lượng rầy đẻ trứng cao hơn cánh dài. Do đó khi tỷ lệ cánh ngắn nhiều thì có khả năng phát sinh thành dịch.
- Một năm phát sinh từ 6 - 7 lứa, trong đó có hai lứa cần chú ý theo dõi và phòng trừ đó là lứa rầy phá hại vào tháng 4 - 5 với lúa vụ xuân và tháng 8 - 9 với lúa vụ mùa.
3. Biện pháp phòng trừ
- Để hạn chế tác hại của rầy, cần áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp trên đồng ruộng. Sử dụng giống kháng rầy, vệ sinh đồng ruộng, cấy thưa 25 - 35 khóm/m2, bón phân cân đối.
- Ngoài ra, cần bảo vệ và tăng cường hoạt động của các loài ký sinh thiên địch như tạo nơi cư trú, hạn chế sử dụng thuốc hóa học trong giai đoạn đầu của cây lúa.
- Khi mật độ rầy khoảng 35 - 40 con/khóm, tương đương 1.500 con/m2 trở lên thì sử dụng thuốc đặc hiệu để phun trừ. Nếu mật độ cao cần phun 2 lần, lần 2 cách lần 1 từ 5 - 7 ngày.
- Hiện nay có rất nhiều thuốc trên thị trường đăng ký trừ rầy nâu hại lúa, hầu hết chúng đều chứa một trong số các hoạt chất sau: Thiamethoxam, Buprofezin, Pymertrozine, Imidacloprid, Nitenpyram, Chlopyrifos, Dinotefuran, Fipronil, ....
4. Lưu ý
- Giai đoạn lúa chín sáp đến chín gốc lúa đã già, không có khả năng vận chuyển các chất từ ngọn đi xuống nên khi bị rầy gây hại mật độ cao, bà con phải vạch gốc lúa theo hàng và dùng vòi phun trực tiếp vào các gốc lúa có rầy mới cho hiệu quả. Trước khi phun nên đưa nước vào ruộng ở mức 3 - 4cm để tiêu diệt được nhiều rầy.
- Sau khi phun thuốc 3 - 5 ngày cần kiểm tra lại ruộng nếu mật độ rầy còn cao cần phải phun nhắc lại lần 2. Pha và phun theo hướng dẫn kỹ thuật trên vỏ bao bì để hạn chế sự lây lan của rầy. Nếu phun khi rầy đã lây lan nhanh, trên diện rộng sẽ rất khó phòng trừ.
5. Kinh nghiệm của nông dân
- Qua điều tra thực tế tại địa phương (Thanh Miện, Hải Dương (cũ) và huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), tôi được rất nhiều bà con chia sẻ cách sử dụng sản phẩm Matoko 50WG.
- Theo kinh nghiệm từ đại lý ông Nguyễn Văn Thiên (Tứ Cường, Thanh Miện, Hải Dương (cũ) – 09112486**), hộ ông Trịnh Xuân Bến (Ân Thi, Hưng Yên – 03651250**), ông Nguyễn Văn Niên (Ân Thi, Hưng Yên – 03330035**), bà Phạm Thị Huệ (03549588**), .... để quản lý rầy nâu hiệu quả không phải là việc khó thực hiện, bà con cần thăm ruộng thường xuyên, vào các giai đoạn lúa làm đòng chuẩn bị trỗ bông thì phun Matoko 50WG của Công ty cổ phần Nông Dược Việt Nam với liều lượng 1 gói 15gr/ 16L nước/ 1 sào Bắc bộ. Khi bông lúa đã quay ngang, uốn câu, cách thời gian thu hoạch từ 20 – 25 ngày tiếp tục sử dụng Matoko 50WG với liều lượng 1 gói 15gr/ 16L nước, thời kỳ này phun 1,5 – 2 bình cho 1 sào Bắc Bộ. Yêu cầu khi phun rầy nâu là trong ruộng phải có nước thì hiệu quả trừ rầy sẽ cao.
- Với phương pháp sử dụng Matoko 50WG trên thì trong vài năm trở lại đây, nhiều hộ nông dân trồng lúa ở Hưng Yên, Hải Dương không còn nỗi lo rầy nâu phá hại, đặc biệt giai đoạn sau khi lúa trỗ.
- Ưu điểm của Matoko 50WG là sản phẩm trừ rầy có tác dụng lưu dẫn, do vậy diệt được nhiều thế hệ rầy nâu, hiệu quả kéo dài, bà con không phải phun lại tốn nhiều công sức và tiền bạc, hơn nữa sản phẩm Matoko 50WG khi phun không cần rẽ lúa, thuốc không có mùi hôi khó chịu, ít ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe của bà con nông dân.
6. Một số hình ảnh bà con phun thuốc Matoko 50WG và lúa sau khi phun 10 ngày:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Ruộng lúa không bị rầy gây hại sau khi sử dụng Matoko 50WG giai đoạn sau trỗ - lúa đã uốn câu. |
Tài liệu tham khảo:
http://camnangcaytrong.com/ray-nau-sd12.html
http://camnangcaytrong.com/phong-tru-ray-nau-hai-lua-chiem-xuan-nd308.html
https://www.2lua.vn/article/1-ray-nau-hai-lua-11360.html
Kỹ sư BVTV Phạm Thanh Thế