1. Bệnh chết rạp cây con hại lạc và biện pháp phòng trừ
![]() |
![]() |
Hỏi:
Cứ vào đầu vụ lạc thu ở vùng chúng tôi, cây lạc thường bị bệnh chết rạp cây con gây hại rất mạnh. Xin được nói rõ thêm về căn bệnh này và làm sao để hạn chế được tác hại của chúng?
-Võ Thị Bé Năm và một số bà con ở Đức Hòa (Tây Ninh)-
Trả lời:
Chết rạp cây con (còn gọi là bệnh chết ẻo, chết cây con…) là một bệnh hại khá phổ biến trên cây rau màu ở nước ta hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm ướt của mùa mưa. Bệnh do nấm Rhizoctonia solani. Bệnh hại chủ yếu ở thời kỳ cây con, làm cây con chết hàng loạt (nên gọi là bệnh chết rạp cây con).
Ban đầu vết bệnh chỉ là một chấm nhỏ màu đen ở phần gốc, sau đó lan rộng dần ra xung quanh bao quanh hết cổ rễ làm cổ rễ khô tóp lại, cây gục xuống và chết (nhưng thân lá vẫn còn xanh). Về sau vết bệnh thối mục và có màu nâu đen ủng, vào những ngày có ẩm độ cao trên vết bệnh xuất hiện mộ lớp nấm màu trắng xám. Bệnh lây lan rất nhanh nếu gặp trời mưa hoặc thường xuyên bị tưới đẫm nước vào buổi chiều tối. Nguồn bệnh tồn tại chủ yếu trong đất và trong tàn dư của cây bị bệnh.
Bệnh phát triển mạnh khi nhiệt độ 28-35 độ C, độ ẩm đất cao, nóng lạnh bất thường. Thực tế đồng ruộng cho thấy bệnh thường gây hại nhiều ở những ruộng đất trũng, ứ đọng nước, đất bị đóng váng sau khi mưa.
Do bệnh gây hại trên rất nhiều loại cây trồng từ đậu đỗ, lúa, ngô, cà chua khoai tây, cho đến những cây dược liệu, cây hoa cảnh…nên việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Cày sâu chôn vùi bớt hạch nấm, bừa kỹ, phơi ải, bón vôi để tiêu ủy nguồn bệnh trong đất.
- Chọn hạt giống khỏe, sạch bệnh.
- Gieo trồng với mật độ vừa phải, không gieo quá sâu.
- Phá váng sau khi mưa, vun xới kịp thời, lên luống cao, hạn chế ruộng lạc bị đọng nước sau khi mưa.
- Bón phân cân đối giữa đam lân và kali, nhưng ruộng thường xuyên bị bệnh gây hại nhiều cần tăng cường phân hữu cơ mục, phân lân và kali.
- Xử lý hạt giống trước khi gieo,
- Những ruộng thường xuyên bị bệnh gây hại nặng, nên luân canh với lúa một vài vụ.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên, nếu thấy bệnh chớm phát sinh thì dùng thuốc phun xịt kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc để phòng trị bệnh hại trên cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh chết rạp cây con hại lạc theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Đắc Nông và Đắc Lắc thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn thuốc Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, thuốc có khả năng phòng và trị được nhiều bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 13,5 ml thuốc Kacie 250EC và 20ml Linacin 40SL/ bình 16 lít, pha xong xịt 1,5-2 bình/ 1.000m2.
Theo ông Lê Văn Tỏ, thôn 14, xã Đak Krông, huyện Cư Jut (Lâm Đồng), ông Nguyễn Đức Ty, thôn 2, xã Cư Knia, huyện Buôn Đôn (Đắc Lắk) thì với liều lượng và cách phun xịt như trên không những hiệu quả phòng trị bệnh chết rạp cây con hại lạc rất cao, mà về sau cây lạc cũng giảm cả bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh đốm lá , đồng thời còn làm cho ruộng lạc phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
2. Làm sao hạn chế bệnh đốm khô đầu lá hành ?
![]() |
![]() |
Hỏi:
Cây hành ở vùng chúng tôi thường bị bệnh đốm khô đầu lá gây hại rất nhiều, chúng tôi đã dùng nhiều loại thuốc nhưng bệnh cũng chỉ thuyên giảm rất ít. Xin được nói rõ thêm về căn bệnh này và cách chữa trị sao cho có kết quả cao nhất?
-Nguyễn Đình Năm và một số bà con ở Gia Lâm (Hà Nội)-
Trả lời:
Bệnh khô đầu lá hành (Stemphylium botryosum) là một bệnh nguy hiểm đối với những cây thuốc họ hành tỏi (Liliaceae) ở nước ta hiện nay. Bệnh có thể phát sinh và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây hành, nhưng thường gây hại mạnh từ khi hình thành củ đến khi thu hoạch (tháng 11, 12).
Bệnh chỉ gây hại trên lá (thường vết bệnh hình thành ở giữa các lá bánh tẻ rồi kéo dài dần vế hai phía). Vết bệnh có hình bầu dục màu nâu đen trên nền xám trắng, chiều dài vết bệnh có thể kéo dài khoảng 10-20 cm dọc theo chiều dài của lá. Nếu gặp mưa phùn dài ngày hoặc trời có sương mù nhiều, tạo ẩm độ không khí cao, làm ruộng hành ẩm ướt, thì bệnh sẽ phát triển rất mạnh, lúc đó trên bề mặt vết bệnh sẽ xuất hiện lớp nấm màu nâu đen. Nếu không phát hiện sớm và có biện pháp phòng trị kịp thời, bệnh sẽ năng và làm cây hành gãy gục ở giữa rồi khô lụi, gây thất thu năng suất nghiêm trọng.
Thực tế đồng ruộng cho thấy, những ruộng trồng dầy, ruộng bón thừa phân đạm làm cây hành tốt lốp yếu ớt, ruộng luôn trong tình trạng ẩm ướt…thường là những ruộng bị bệnh gây hại nhiều hơn những ruộng khác.
Để hạn chế tác hại của bệnh, cần áp dụng một cách đồng bộ và hợp lý những biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp, sau đây là một số biện pháp chính:
- Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, thu gom tàn dư của cây hành, tỏi đưa ra khỏi ruộng trước khi làm đất gieo trồng vụ hành mới.
- Làm đất kỹ để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu.
- Lên luống cao, để có thể thoát nước tốt mỗi khi có mưa dài ngày hoặc sau khi tưới nhiều nước.
- Những vùng thường bị bệnh gây hại nặng, nên trồng những giống có khả năng chống chịu với bệnh tốt hơn như hành tía, tỏi ta, củ kiệu.
- Không nên trồng quá dầy, tùy theo đặc tính của giống mà trồng với mật độ vừa phải hợp lý.
- Bón phân cân đối và hợp lý giữa đạm, lân và ka li, tuyệt đối không bón quá nhiều đạm dễ làm cho cây yếu ớt, giảm khả năng chống đỡ với bệnh.
- Tưới vừa đủ ẩm, không nên tưới quá nhiều nước làm ruộng luôn trong tình trạng ẩm ướt. Những ngày có sương nhiều, nên thể tưới nước rửa sương vào buổi sáng để hạn chế bệnh phát triển.
- Thường xuyên ngắt bỏ những bộ phận đã bị bệnh gây hại nặng, đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan.
- Kiểm tra ruộng hành thường xuyên, nhất là từ khi hình thành củ trở đi, để phát hiện sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời, không để bệnh phát triển, lây lan.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Kinh Môn (Hải Dương) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ có kết quả như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm lưu dẫn, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do nước mưa, nước tưới. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Điều đặc biệt là loại thuốc này ít độc, nên ít gây hại cho người phun xịt và thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 27 ml Kacie 250EC và 40 ml Linacin 40SL/ bình 16 lít/ phun cho 1 sào BB (360m2), có thể phun vài lần (cách nhau khoảng 7-10 ngày/ một lần) cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo bà Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thôi, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thị Na, Nguyễn Thị Tuyết…, thôn Huề Trì, xã An Phụ, huyện Kinh Môn (Hải Phòng), thì với liều lượng pha chế và cách sử dụng như trên, không những thuốc có hiệu quả rất cao với bệnh đốm khô đầu lá hành, mà còn làm cho bộ lá xanh đẹp, dọc hành dầy cứng, ruộng hành xanh tốt, cho năng suất và chất lượng hành cao.
NGUYỄN DANH VÀN
3. Bệnh đốm lá hại lạc và cách phòng trừ
![]() |
![]() |
Hỏi:
Cây đậu phộng ở vùng chúng tôi thường bị bệnh đốm lá gây hại rất nặng, nhất là từ khi cây ra hoa trở đi. Xin được nói rõ thêm về căn bệnh này và có cách nào phòng trị được chúng?
-Nguyễn Đình Thanh và một số bà con ở Trảng Bàng (Tây Ninh)-
Trả lời:
Đốm lá là một trong vài dịch hại thường xuyên gây hại trên cây đậu phộng (lạc) ở nước ta, đặc biệt là trong điều kiện nắng nóng, ẩm ướt. Hiện tượng đốm lá thường do hai chứng bệnh sau đây gây ra.
1- Bệnh đốm nâu: do nấm Cercospora arachidicola. Bệnh hại chủ yếu trên lá (rất ít khi hại cuống lá và thân cành), vết bệnh có hình tròn ở mặt trên của lá), đường kính vài mm (vết lớn tới 10mm), mầu vàng nâu, xung quanh có quầng vàng rộng. Trên bề mặt vết bệnh có một lớp nấm mầu xám, nhưng mặt dưới lá vết bệnh có mầu nhạt hơn. Bệnh thường xuất hiện và gây hại ở lá gốc trước sau đó lan dần lên các lá phía trên, bệnh làm cho lá chóng tàn, khô và rụng sớm, gây thất thu rất lớn cho người trồng.
2- Bệnh đốm xám: do nấm Cercospora persoratum gây ra, vết bệnh hình tròn, được thể hiện rõ ở cả mặt trên và mặt dưới lá, đường kính từ 1-5 mm, màu xám đen. Xung quanh không có quầng vàng. Về sau trên bề mặt vết bệnh xuất hiện một lớp nấm mốc màu đen, làm cho lá úa vàng, khô rụng. Bệnh cũng thường phát sinh và gây hại ở những lá phía gốc trước sau đó lan dần lên các lá phía trên
Nguồn bệnh tồn tại trong tàn dư của cây bị bệnh, trong đất và trên hạt giống. Bệnh thường phát sinh mạnh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, trời ẩm ướt. Bệnh có thể xuất hiện và gây hại sớm sau khi gieo khoảng một tháng, nhưng gây hại nhiều nhất vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây.
Bệnh gây hại quanh năm (ở cả vụ lạc xuân và vụ lạc thu), nhưng thường gây hại nhiều ở vụ lạc thu hơn, do vụ này thời tiết nóng ẩm rất thuận lợi cho bệnh phát triển và lây lan rất mạnh.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom sạch sẽ tàn dư của cây lạc ở vụ trước, trước khi làm đất gieo trồng vụ sau.
- Cày bừa kỹ để chôn vùi mầm bệnh, phơi ải kỹ đất trước khi trồng.
- Gieo trồng giống chống chịu với bệnh.
- Xử lý hạt giống trước khi trồng.
- Không bón quá nhiều phân đạm, phải bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường phân hữu cơ hoai mục.
- Phải lên luống cao, có rãnh thoát nước tốt, không nên để ruộng quá ẩm ướt
- Sau khi trồng vài vụ lạc nên luân canh vài vụ với ngô, lúa.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên, nếu thấy bệnh chớm phát sinh thì dùng thuốc phun xịt kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc để phòng trị bệnh hại trên cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh đốm lá hại lạc theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Lâm Đồng và Đắc Lắk thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn thuốc Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, thuốc có khả năng phòng và trị được nhiều bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 13,5 ml thuốc Kacie 250EC và 20ml Linacin 40SL/ bình 16 lít, pha xong xịt 1,5-2 bình/ 1.000m2. Xịt định kỳ khoảng 10-12 ngày/ lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo ông Lê Văn Tỏ, thôn 14, xã Đak Krông, huyện Cư Jut (Lâm Đồng) và ông Đặng Ngọc Hưng, thôn 2, xã Cư Knia, huyện Buôn Đôn (Đắc Lắk) thì với liều lượng và cách phun xịt như trên không những hiệu quả phòng trị bệnh đốm lá lạc rất cao, mà còn làm cho ruộng lạc phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
4. Bệnh đốm vòng hại hành và cách phòng trị
![]() |
![]() |
Hỏi:
Thời gian gần đây không rõ tại sao hành ở vùng chúng tôi thường bị một chứng bệnh như sau: trên lá tự nhiên xuất hiện những đốm nhỏ màu trắng sau đó lớn dần thành hình bầu dục màu xám nâu (xin xem ảnh gửi kèm). Chúng tôi đã dùng nhiều loại thuốc nhưng hiệu quả rất thấp. Xin cho biết đó là chứng bệnh gì, và nên dùng loại thuốc nào cho có hiệu quả cao nhất?
-Nguyễn Sinh Khí và một số bà con ở Thường Tín (Hà Nội)-
Trả lời:
Qua mô tả và hình ảnh gửi kèm, chúng tôi cho rằng cây hành ở chỗ các bạn đã bị bệnh Đốm vòng gây hại. Bệnh do nấm Alternaria porri gây ra. Bệnh có thể gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây hành, nhưng thường gây hại nhiều nhất vào giai đoạn xuống củ trở đi, đặc biệt là khi thời tiết có mưa phùn và nhiều sương tạo ẩm độ không khí cao gây ẩm ướt trong ruộng hành. Bệnh gây hại trên lá. Đúng như các bạn đã quan sát và mô tả, ban đầu vết bệnh chỉ là những đốm nhỏ màu trắng, sau đó nếu gặp thời tiết thuận lợi vết bệnh sẽ phát triển rộng và có hình ô van, màu xám nâu (thỉnh thoảng cũng có thể thấy ở phần gốc sát mặt đất của cây hành cũng bị thối, rồi làm cho củ hành bị thối và khô đi). Nếu không phòng trị kịp thời bệnh sẽ phát triển mạnh làm cho lá hành bị khô, cây hành tàn lụi và chết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất của ruộng hành.
Ngoài gây hại trên ruộng, nấm bệnh còn có thể xâm nhập và gây thối củ trong thời gian lưu trữ, bảo quản.
Nấm bệnh tồn tại trong tàn dư của cây bị bệnh nằm trên ruộng, bào tử phát tán lây lan theo gió, hoặc theo giọt nước bắn từ đất lên lá.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Thu gom sạch sẽ tàn dư của cây hành ở vụ trước đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy trước khi làm đất, để hạn chế nguồn bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày sâu, làm đất kỹ để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu.
- Lên luống cao, để có thể thoát nước tốt mỗi khi có mưa dài ngày hoặc sau khi tưới nhiều nước.
- Không nên trồng quá dầy, tùy theo đặc tính của giống mà trồng với mật độ vừa phải hợp lý.
- Bón phân cân đối và hợp lý giữa đạm, lân và ka li, tuyệt đối không bón quá nhiều đạm dễ làm cho cây yếu ớt, giảm khả năng chống đỡ với bệnh.
- Tưới vừa đủ ẩm, không nên tưới quá nhiều nước làm ruộng luôn trong tình trạng ẩm ướt. Những ngày có sương nhiều, nên thể tưới nước rửa sương vào buổi sáng để hạn chế bệnh phát triển.
- Thường xuyên ngắt bỏ những bộ phận đã bị bệnh gây hại nặng, đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan.
- Kiểm tra ruộng hành thường xuyên, nhất là từ khi hình thành củ trở đi, để phát hiện sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời, không để bệnh phát triển, lây lan.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh đốm vòng hại hành theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Kinh Môn (Hải Phòng) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ có kết quả như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm lưu dẫn, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do nước mưa, nước tưới. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Điều đặc biệt là loại thuốc này ít độc, nên ít gây hại cho người phun xịt và thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 27 ml Kacie 250EC và 40 ml Linacin 40SL/ bình 16 lít/ phun cho 1 sào BB (360m2), có thể phun vài lần (cách nhau khoảng 7-10 ngày/ một lần) cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo bà Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thôi, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thị Na, Nguyễn Thị Tuyết…, thôn Huề Trì, xã An Phụ, Kinh Môn (Hải Phòng), thì với liều lượng pha chế và cách sử dụng như trên, không những thuốc có hiệu quả rất cao với bệnh đốm vòng hại hành, mà còn làm cho bộ lá xanh đẹp, dọc hành dầy cứng, ruộng hành xanh tốt, cho năng suất và chất lượng hành cao.
NGUYỄN DANH VÀN
5. Bệnh nứt thân xì mủ dưa hấu và cách phòng trị
![]() |
![]() |
Hỏi:
Không hiểu sao gần đây dưa hấu ở vùng chúng tôi thường bị bệnh nứt thân xì mủ gây hại khá nặng. Xin được nói rõ thêm về chứng bệnh này và làm cách nào hạn chế được sự thiệt hại của chúng?
-Vũ Đình Miên và một số bà con ở Phú Xuyên(Hà Nội)-
Trả lời:
Nứt thân xì mủ (còn gọi là bệnh bã trầu, bệnh chạy dây…) được coi là một trong những chứng bệnh khá nguy hiểm trên nhóm cây thuộc họ bầu bí, trong đó đáng chú ý là cây dưa hấu. Bệnh do nấm Mycosphaerella melonis gây ra.
Bệnh có thể gây hại nhiều bộ phận của cây như lá, quả, cuống quả, …nhưng nặng và nguy hiểm nhất vẫn là trên thân, gây hiện tượng nứt thân xì mủ như các bạn đã thấy.
Trên thân, lúc đầu vết bệnh chỉ là những đốm hình bầu dục hơi lõm, làm khuyết một bên thân hay nhánh, (kích thước 1-2cm), màu vàng nhạt, chỗ bị bệnh xuất hiện nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt. Về sau chuyển sang màu nâu sẫm và khô cứng lại. Nếu nặng, thân cây dưa sẽ bị nứt thành vệt dài màu nâu và chảy nhựa nhiều hơn, trên đó có các hạt nhỏ màu đen (đó là các ổ bào tử nấm), dây dưa bị mất sức, ngọn dưa chùn lại không phát triển được, lá bị vàng và làm cho quả cũng không lớn được, cuối cùng làm cả dây dưa héo dần và chết.
Thực tế đồng ruộng cho thấy những ruộng trồng dưa liên tục nhiều năm liền lại không được vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước khi trồng vụ dưa mới, những ruộng bón thừa phân đạm làm cây dưa tốt lốp…thường là những ruộng bị bệnh gây hại nhiều hơn những ruộng khác. Đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nắng nóng và mưa nhiều làm cho đất ruộng dưa quá ẩm ướt.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn phải áp dụng kết hợp một cách đồng bộ và hợp lý những biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp, sau đây là một số biện pháp chính:
- Sau khi thu hoạch cần thu gom sạch sẽ tàn dư của cây dưa và rơm rạ phủ ruộng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày phơi ải, bừa kỹ ruộng để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu. Bón bổ xung khoảng 25- 30kg vôi bột/ sào (360m2) để bổ xung can xi và khử trùng đất.
- Không nên trồng dưa hấu và những cây thuộc họ bầu bí khác liên tục nhiều năm liền trên cùng một thửa ruộng. Sau vài vụ trồng dưa nên luân canh một vài vụ với những cây trồng khác, để cắt đứt nguồn bệnh trên ruộng.
- Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp để vừa hạn chế cỏ dại, hạn chế bốc hơi nước vừa hạn chế sâu bệnh trong đó có bệnh nứt thân xì mủ.
- Không trồng dưa quá dày, trồng với mật độ hợp lý phù hợp với đặc tính của giống dưa.
- Không tưới nước quá nhiều vào buổi chiều, không nên tưới nước trực tiếp lên thân lá, nếu được nên áp dụng biện pháp tưới rãnh, cho nước ngấm đủ độ ẩm (khoảng 80-85%) sau đó tháo kiệt nước trong rãnh.
- Bón phân đầy đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali, tuyệt đối không bón thừa đạm làm cho cây tốt lốp. Hạn chế bón đạm khi thấy ruộng dưa chớm bị bệnh mà thời tiết lại đang phù hợp cho bệnh phát triển.
- Thường xuyên thu gom những bộ phận bị bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên để phát hiệm sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh nứt thân xì mủ cây dưa hấu, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở huyện Gia Lộc và phường Hải Dương (tỉnh Hải Phòng) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn thuốc Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha từ 6,75-13,5 ml Kacie 250EC và 20 ml Linacin 40SL cho một bình xịt loại 18 lít, pha xong phun ướt đều tán lá. Phun định kỳ khoảng 7-10 ngày/ một lần, cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo các ông Đoàn Văn Miện, Nguyễn Văn Đảm (xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc), ông Phạm Văn Hùng (xã Thạch Khôi, phường Hải Dương) tỉnh Hải Phòng, đã sử dụng loại thuốc này cho biết thì không những thuốc có hiệu quả cao với bệnh nứt thân xì mủ, mà còn làm cho lá dưa xanh hơn, dầy hơn, từ đó đã cho năng suất cao hơn những ruộng khác.
NGUYỄN DANH VÀN
6. Bệnh nứt thân xì mủ dưa lê và cách phòng trừ
![]() |
![]() |
![]() |
Hỏi:
Không hiểu tại sao cây dưa lê ở vùng chúng tôi gần đây thường bị bệnh nứt thân xì mủ gây hại rất nhiều, nếu nặng sẽ làm thân cây nứt thành vết dài màu nâu xám, ngọn dưa bị chun lại, quả không phát triển được, cuối cùng có thể làm chết cả dây dưa. Xin cho biết làm cách nào để hạn chế được tác hại của căn bệnh này?
-Bùi Văn Đoan và một số bà con ở Khoái Châu (Hưng Yên)-
Trả lời:
Cùng với bệnh phấn trắng, bệnh giả sương mai…thì bệnh nứt thân xì mủ (còn gọi là bệnh bã trầu, bệnh chạy dây…) cũng gây hại khá phổ biến trên nhiều loại dưa (trong đó có cây dưa lê-còn gọi là dưa ngọt) ở nước ta hiện nay. Bệnh do nấm Mycosphaerella melonis gây ra. Nấm gây bệnh tồn tại trên tàn dư của cây bị bệnh, và lây lan bằng bào tử. Bệnh thường gây hại nhiều trong điều kiện thời tiết nắng nóng và mưa nhiều làm cho đất ruộng dưa quá ẩm ướt.
Bệnh có thể gây hại nhiều bộ phận của cây như lá, quả, cuống quả, …nhưng nặng và nguy hiểm nhất vẫn là trên thân, gây hiện tượng nứt thân xì mủ như các bạn đã thấy.
Trên thân, lúc đầu vết bệnh chỉ là những đốm hình bầu dục hơi lõm, làm khuyết một bên thân hay nhánh, (kích thước 1-2cm), màu hơi vàng nhạt, chỗ bị bệnh xuất hiện nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt. Về sau chuyển sang màu nâu sẫm và khô cứng lại. Nếu nặng, thân cây dưa sẽ bị nứt thành vệt dài màu nâu và chảy nhựa nhiều hơn, trên đó có các hạt nhỏ màu đen (đó là các ổ bào tử nấm), dây dưa bị mất sức, ngọn dưa chùn lại không phát triển được, lá bị vàng và làm cho quả cũng không lớn được, cuối cùng làm cả dây dưa héo dần và chết.
Những ruộng trồng dưa liên tục nhiều năm liền lại không được vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, những ruộng bón thừa phân đạm làm cây dưa tốt lốp…thường là những ruộng bị bệnh gây hại nhiều hơn những ruộng khác. Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Sau khi thu hoạch cần thu gom sạch sẽ tàn dư của cây dưa và rơm ra phủ ruộng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày phơi ải, bừa kỹ ruộng để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu. Bón bổ xung khoảng 25- 30kg vôi bột/ sào BB (360m2) để bổ xung can xi và khử trùng đất.
- Không nên trồng dưa lê và những cây thuộc họ bầu bí khác liên tục nhiều năm liền trên cùng một thửa ruộng. Sau vài vụ trồng dưa nên luân canh một vài vụ với những cây trồng khác, để cắt đứt nguồn bệnh trên ruộng.
- Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp để vừa hạn chế cỏ dại, hạn chế bốc hơi nước vừa hạn chế sâu bệnh trong đó có bệnh nứt thân xì mủ.
- Không trồng dưa quá dày, trồng với mật độ hợp lý phù hợp với đặc tính của giống dưa.
- Không tưới nước quá nhiều vào buổi chiều, không tưới nước trực tiếp lên thân lá, nếu được nên áp dụng biện pháp tưới rãnh, cho nước ngấm đủ độ ẩm (khoảng 80-85%) sau đó tháo kiệt nước trong rãnh.
- Bón phân đầy đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali, tuyệt đối không bón thừa đạm làm cho cây tốt lốp. Hạn chế bón đạm khi thấy ruộng dưa chớm bị bệnh mà thời tiết lại đang phù hợp cho bệnh phát triển.
- Thường xuyên thu gom những bộ phận bị bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên để phát hiệm sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh nứt thân xì mủ hại cây dưa lê, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở huyện Mê Linh và Đông Anh (Hà Nội) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là vì Kacie 250EC là thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Đây là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn thuốc Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Thuốc ít độc đối với người phun xịt và người sử dụng sản phẩm sau này, thuốc thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 13,5ml Kacie 250EC cộng với với 40ml thuốc Linacin 40SL/ bình 25 lít, pha xong phun ướt đều tán lá. Phun định kỳ khoảng 7-10 ngày/ một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo bà Nguyễn Thị Thiết (thôn Trung Oai), bà Đỗ Thị Hải (xóm 4), xã Tiên Dương, huyện Đông Anh; ông Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Dung (thôn Đông Cao, xã Tráng Việt), huyện Mê Linh (Hà Nội) đã sử dụng hai loại thuốc này cho biết hỗn hợp hai loại thuốc trên không những có hiệu quả cao với bệnh nứt thân xì mủ, mà còn hạn chế rất tốt bệnh phấn trắng, đồng thời còn làm cho lá cây dưa lê xanh hơn, dầy hơn và cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
7. Làm sao hạn chế bệnh phấn trắng hại dưa lê
![]() |
![]() |
Hỏi:
Gần đây cây dưa lê ở vùng chúng tôi thường bị bệnh phấn trắng gây hại rất nhiều, nếu nặng có thể làm cho lá bị rụng sớm. Xin được hướng dẫn biện pháp và loại thuốc để phòng trị căn bệnh này sao cho có hiệu quả cao nhất?
-Vũ Thị Loan và một số bà con ở Duy Tiên (Ninh Bình)-
Trả lời:
Phấn trắng là một bệnh khá phổ biến trên cây dưa lê (và nhiều cây khác thuộc họ bầu bí) ở nước ta hiện nay, bệnh do nấm Erysiphe cichoracearum De Candolle gây ra. Bệnh có thể xuất hiện và gây hại từ khi cây còn nhỏ, và trên nhiều bộ phận của cây như lá, thân, cành, hoa, nhưng nặng nhất vẫn là trên lá.
Bệnh xuất hiện ở cả 2 mặt lá, nhưng thường biểu hiện rõ nhất là ở mặt trên của lá, chỗ bị bệnh về sau được bao phủ bởi một lớp nấm màu trắng như bột phấn. Lá bệnh chuyển màu vàng, khô cháy và dễ rụng, khiến cây còi cọc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất của ruộng dưa.
Bệnh thường phát sinh và gây hại mạnh trong điều kiện nhiệt độ khoảng 20-25 độ C và ẩm độ không khí cao. Nấm bệnh tồn tại trong hạt giống và trong tàn dư của cây bị bệnh trên đồng ruộng, bào tử nấm có thể phát tán, lan truyền theo gió.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn phải áp dụng kết hợp một cách đồng bộ và hợp lý những biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp. Sau đây là một số biện pháp chính:
- Trước khi làm đất, cần phải dọn sạch tàn dư của cây thuộc họ bầu bí đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày bừa kỹ, phơi khô đất trước khi trồng để chôn vùi bớt nguồn bệnh từ tàn dư của cây bị bệnh ở vụ trước.
- Lên luống cao, làm rãnh thoát nước tốt để ruộng luôn khô ráo.
- Bón cân đối giữa đạm, lân và kali. Không bón quá nhiều đạm, nhất là khi cây đã chớm bị bệnh.Tăng cường phân hữu cơ hoại mục,.
- Thường xuyên thu gom những bộ phận đã bị bệnh hại nặng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy, để hạn chế bệnh lây lan.
- Khi phát hiện ruộng dưa đã bị bệnh nên giảm bớt lượng nước tưới.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên, để phát hiện sớm và phun thuốc phòng trị kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh phấn trắng hại cây dưa lê, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở huyện Mê Linh và Đông Anh (Hà Nội) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là vì Kacie 250EC là thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Đây là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn thuốc Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Thuốc ít độc đối với người phun xịt và người sử dụng sản phẩm sau này, thuốc thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 13,5ml Kacie 250EC cộng với với 40ml thuốc Linacin 40SL/ bình 25 lít, pha xong phun ướt đều tán lá. Phun định kỳ khoảng 7-10 ngày/ một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo bà Nguyễn Thị Thiết (thôn Trung Oai), bà Đỗ Thị Hải (xóm 4), xã Tiên Dương, huyện Đông Anh; ông Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Dung (thôn Đông Cao, xã Tráng Việt), huyện Mê Linh (Hà Nội) đã sử dụng hai loại thuốc này cho biết hỗn hợp hai loại thuốc trên không những có hiệu quả cao với bệnh phấn trắng, mà còn hạn chế rất tốt bệnh nứt thân xì mủ, đồng thời còn làm cho lá cây dưa lê xanh hơn, dầy hơn và cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
8. Làm sao hạn chế bệnh phấn trắng và héo xanh vi khuẩn dưa hấu
![]() |
![]() |
Hỏi:
Không hiểu tại sao gần đây dưa hấu ở vùng chúng tôi thường bị bệnh phấn trắng và bệnh héo xanh gây hại rất nhiều, ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây dưa. Xin cho biết sơ lược về hai căn bệnh này, có cách nào phòng trị chúng một cách có hiệu quả cao nhất?
-Nguyễn Văn Hạnh và một số bà con ở Khoái Châu (Hưng Yên)-
Trả lời:
Bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum), và bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) là những bệnh nguy hiểm trên nhóm cây họ bầu bí như: bầu, bí xanh, dưa hấu, dưa leo, dưa lê…ở nước ta.
Bệnh phấn trắng có thể xuất hiện và gây hại từ khi cây còn nhỏ, và trên nhiều bộ phận của cây như lá, thân, cành, hoa, nhưng nặng nhất vẫn là trên lá, ban đầu vết bệnh chỉ là những đốm nhỏ mất màu xanh, sau chuyển dần sang màu vàng và lan rộng dần ra xung quanh, chỗ bị bệnh về sau được bao phủ bởi một lớp nấm màu trắng như bột phấn, nếu nặng có thể bao trùm cả phiến lá. Lá bệnh chuyển dần từ màu xanh sang màu vàng, khô cháy và dễ rụng.
Bệnh héo xanh vi khuẩn làm cho cây dưa đang sinh trưởng bình thường thì đột ngột bị héo rũ xuống, trong khi lá dưa vẫn còn xanh. Hiện tượng héo xảy ra vào ban ngày khi trời nắng, nhưng ban đêm cây tươi trở lại, sau vài ngày cây dưa không thể hồi phục lại được nữa và chết. Cắt ngang gốc thân cây bị bệnh, thấy các mạch dẫn bị nâu đen, bóp mạnh vào chỗ gần mặt cắt sẽ thấy tiết ra chất dịch vi khuẩn màu trắng đục.
Để hạn chế tác hại của những căn bệnh trên, các bạn phải áp dụng kết hợp nhiều biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp, sau đây là một số biện pháp chính:
- Sau khi thu hoạch cần thu gom sạch sẽ tàn dư của cây dưa và rơm rạ phủ ruộng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày phơi ải, bừa kỹ ruộng để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu. Bón khoảng 25-30kg vôi bột/ sào (360m2) để bổ xung can xi và khử trùng đất.
- Phải lên luống cao, làm rãnh thoát nước tốt để ruộng luôn khô ráo.
- Không trồng dưa hấu và những cây cùng ký chủ của bệnh liên tục nhiều năm liền trên cùng một thửa ruộng. Sau vài vụ trồng dưa nên luân canh một vài vụ với những cây trồng khác, để cắt đứt nguồn bệnh trên ruộng (tốt nhất là luân canh với một vụ lúa nước).
- Bón phân đầy đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali, tuyệt đối không bón thừa đạm làm cho cây tốt lốp.
- Thường xuyên kiểm tra nhổ bỏ những cây bị bệnh héo xanh và thu gom những bộ phận bị bệnh phấn trắng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan. Sau đó bón vôi vào gốc vừa nhổ để khử trùng đất.
- Khi phát hiện ruộng dưa đã bị bệnh nên giảm bớt lượng nước tưới.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên để phát hiệm sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh phấn trắng và bệnh héo xanh vi khuẩn hại cây dưa hấu, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở huyện Gia Lộc và phường Hải Dương (tỉnh Hải Phòng) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Kacie 250EC là thuốc trừ nấm nội hấp, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do mưa. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 5 ml Kacie 250EC và 20 ml Linacin 40SL cho một bình xịt loại 18 lít, pha xong phun ướt đều tán lá. Phun định kỳ khoảng 7-10 ngày/ một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo ông Đoàn Văn Miện (xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc) và ông Phạm Văn Hùng (xã Thạch Khôi, phường Hải Dương) tỉnh Hải Phòng, thì với liều lượng pha chế và cách sử dụng như trên, không những thuốc có hiệu quả cao với bệnh phấn trắng, bệnh héo xanh vi khuẩn mà còn làm cho lá cây dưa hấu xanh hơn, dầy hơn, nhìn ruộng dưa đẹp hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
9. Bệnh thối hành củ và cách phòng trừ
![]() |
![]() |
Hỏi:
Cây hành ở vùng chúng tôi thường bị bệnh thối củ gây hại rất nặng trên ruộng và cả khi tồn trữ sau khi thu hoạch. Chúng tôi đã phun nhiều loại thuốc nhưng bệnh vẫn gây hại nặng. Xin được nói rõ thêm về căn bệnh này và cách phòng trị sao cho có hiệu quả cao?
-Nguyễn Thị Khiêm và một số bà con ở xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Phòng)-
Trả lời:
Mặc dù sinh khối của cây hành rất nhỏ, nhưng chúng cũng có khá nhiều loại bệnh gây hại. Bên cạnh bệnh khô đầu lá, bệnh sương mai, bệnh đốm vòng, bệnh chết rũ (mà bà con thường gọi là bệnh chết lươn, chết cây con)…thì thối củ cũng là một bệnh khá phổ biến. Thực tế đồng ruộng cho thấy, củ hành bị thối củ là do hai nguyên nhân. Một nguyên nhân do nấm và một do vi khuẩn.
Nguyên nhân thứ nhất do nấm Sclerotium rolfsii Sacc gây ra, gây thối củ hành.
Ban đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ xuất hiện ở phần cổ của củ hành (phần tiếp giáp giữa gốc thân và củ) sau đó phát triển rộng dần làm chỗ bị bệnh mềm và chảy nước, do mạch dẫn bi phá hủy không thể vận chuyển được nước và dinh dưỡng lên nuôi cây nên phần trên của chỗ bị bệnh còi cọc và chết dần, cầm cây nhổ lên dễ bị đứt ngang cổ củ.
Nếu bệnh xuất hiện sớm khi cây hành còn nhỏ, gặp thời tiết ẩm ướt thì trên vết bệnh sẽ xuất hiện những tản nấm màu xám hoặc trắng xốp như bông gòn và những hạch nấm màu trắng, sau chuyển dần thành màu vàng nâu, kích thước khoảng 0,5-1,0mm (nhìn giống như hạt cải). Hạch nấm tồn tại trên bộ phận bị bệnh hoặc rụng xuống đất, đây là nguồn bệnh ban đầu cho cây hành vụ sau.
Nếu bệnh tấn công muộn sẽ gây thối cổ củ. Trong thời gian bảo quản tồn trữ, bệnh tiếp tục tấn công làm củ bị thối khô phần ruột, có khi chỉ còn lớp vỏ bên ngoài.
Ngoài cây hành, nấm này còn gây hại khoai tây, cà chua, khoai lang, lạc, đậu đỗ, phong lan... do nguồn bệnh có sẵn trong tự nhiên nên việc phòng ngừa chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn.
Nguyên nhân thứ hai do vi khuẩn Pseudomonas spp. gây ra. Vi khuẩn tấn công vào cổ rễ hoặc phần gốc (thông qua những vết thương cơ giới trên đó). Ban đầu vết bệnh chỉ là chững chấm nhỏ giống giọt dâù về sau mô bệnh bị hủy hoại chuyển màu nâu tối, mềm ướt, sau đó phát triển rộng dần ra toàn củ, làm cho thịt củ thối nhũn chẩy nước chỉ còn lớp vỏ mỏng nhăn nheo, có mùi hôi khó chịu (bóp nhẹ sẽ thấy có nhiều dịch vi khuẩn chảy ra) rễ thâm đen, lá và cây héo dần, gây hiện tượng chết rạp.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn cần áp dụng một cách đồng bộ và hợp lý những biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp. Sau đây là một số biện pháp chính:
- Trước khi làm đất cần thu gom sạch sẽ tàn dư của cây hành và những cây ký chủ phụ khác (như đã nêu trên) đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy.
- Cần cày bừa kỹ để chôn vùi hạch nấm, nên phơi khô đất ruộng trước khi trồng.
- Tuyệt đối không lâý hành ở những ruộng đã bị bệnh để làm giống cho vụ sau.
- Nên thiết kế luống hình mai rùa và không nên trồng quá dầy để ruộng hành luôn thông thoáng, khô ráo.
- Kiểm tra ruộng hành thường xuyên để phát hiện sớm, nhổ bỏ và đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy những cây hành đã bị bệnh. Tuyệt đối không vứt bỏ cây bệnh trên ruộng hoặc xuống mương nước tưới.
- Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tránh bón thừa đạm, bón thêm vôi bột để khử trùng đất, tăng cường phân chuồng hoai mục có trộn thêm chế phẩm Trichoderma.
- Khôn nên tưới vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối (tuyệt đối tránh cho lá hành bị ướt nước vào buổi tối).
- Không nên thu hoạch hành còn non, nên thu hoạch khi củ hành đã già chín.
- Sau khi thu hoạch, cần phơi khô cuống củ trước khi bảo quản tồn trữ. Bảo quản củ trong điều kiện khô mát và thoáng gió. Thường xuyên kiểm tra loại bỏ những củ bị thối tiêu hủy để tránh lây lan.
- Khi hành sắp xuống củ, cần kiểm tra ruộng hành thường xuyên, nếu phát hiện hành chớm bị bệnh cần giảm nước tưới và phun thuốc phòng trị kịp thời.
- Sau khi trồng một vài vụ hành nên luân canh một vài vụ với cây lúa hoặc rau trồng nước.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh thối củ theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn (Hải Phòng) thì thuốc Kacie 250EC phối hợp với thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Về liều lượng, theo kinh nghiệm của ông Lê Minh Thuân (thôn Phượng Hoàng, xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn), thì có thể pha 01 gói Kacie 250EC (loại 13,5 ml/ gói) và 01 gói Linacin 40SL (loại 20 ml/ gói) cho một bình 16 lít. Pha xong phun 01 bình cho 01 sào BB (360m2) nếu là hành còn nhỏ. Từ khi hành bắt đầu xuống củ phun 1,5 bình cho 01 sào), có thể phun vài lần (cách nhau khoảng 5-7 ngày/ một lần) cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo ông Thuân với liều lượng pha chế và cách sử dụng như trên, không những thuốc có hiệu quả rất cao với bệnh thối củ hành, mà ruộng hành còn sạch cả bệnh đốm vòng, bệnh khô đầu lá, bệnh chết lươn (chết cây con)…đồng thời còn làm cho bộ lá xanh đẹp, dọc hành dầy cứng, ruộng hành xanh tốt, cho năng suất và chất lượng hành cao, trong thời gian vận chuyển, bảo quản củ hành cũng không bị thối.
Sở dĩ có kết quả như vậy vì Kacie 250EC là thuốc trừ nấm lưu dẫn, có khả năng hấp thu mạnh vào lá nên ít bị rửa trôi do nước mưa, nước tưới. Do thuốc vừa có tác dụng ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm, vừa có tác dụng kìm hãm sự phát triển của nấm trong cây, nên vừa có tác dụng phòng vừa có tác dụng trị bệnh rất tốt. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng dưỡng cây, giúp cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp tăng cường quang hợp, tăng cường sức đề kháng với dịch hại và tăng năng suất.
Còn Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, nên hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Điều đặc biệt là loại thuốc này ít độc, nên ít gây hại cho người phun xịt và thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
NGUYỄN DANH VÀN
10. Bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa và cách phòng trừ
![]() |
![]() |
Hỏi:
Lúa ở vùng chúng tôi gần đây thường bị bệnh đốm sọc vi khuẩn gây hại (nhất là từ khi cây lúa làm đòng trở đi). Xin được nói rõ thêm về căn bệnh này và cách phòng trị sao cho có hiệu quả cao?
-Bùi Văn Tống và một số bà con ở Kim Bảng (Ninh Bình)-
Trả lời:
Đốm sọc vi khuẩn là môt bệnh khá phổ biến trên lúa ở nước ta và những nước nhiệt đới nóng ẩm. Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas oryzicola gây ra. Bệnh thường gây hại mạnh từ khi lúa đứng cái làm đòng trở đi.
Ban đầu vết bệnh chỉ là những sọc nhỏ trong xanh giọt dầu chạy dọc theo các gân lá, dần dần chuyển màu nâu tạo thành các sọc nâu hẹp có độ dài ngắn khác nhau, nếu là giống mẫn cảm với bệnh thì xung quanh sọc nâu có thể có quầng vàng hẹp. Gặp điều kiện ẩm độ không khí cao (vào sáng sớm hoặc lúc trời có sương mù nhiều tạo ẩm ướt trên lá lúa) trên vết bệnh có thể xuất hiện những giọt dịch vi khuẩn tròn nhỏ màu vàng đục, về sau khô rắn keo lại nhìn giống như hạt trứng cá. Những giọt này dễ dàng rơi khỏ mặt lá xuống ruộng trôi theo dòng nước phát tan lây lan sang nơi khác. Cuối cùng lá lúa cũng bị cháy khô táp giống như bệnh cháy bìa lá (bạc lá).
Bệnh thường phát sinh, phát triển và gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt và nhiệt độ cao. Vi khuẩn xâm nhập vào lá lúa qua khí khổng hoặc những vết thương cơ giới do côn trùng hoặc do con người vô ý tạo ra trong quá trình chăm sóc lúa, đặc biệt là do mưa to gió bão gây ra (vì thế bệnh thường gây hại nhiều trong những vụ lúa hè thu và mùa). Sau khi vào trong cây, vi khuẩn phát triển mạnh trong nhu mô lá lúa. Bệnh lan truyền trên đồng ruộng chủ yếu nhờ nước tưới, mưa gió và tiếp xúc cọ sát giữa các lá lúa với nhau. Nguồn bệnh tồn tại trên tàn dư của cây lúa bị bệnh, trong hạt giống và trong nước, vi khuẩn có thể tồn tại và gây bệnh cho cả cây dại như lúa dại.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Ở những vùng thường bị bệnh gây hại hàng năm, phải gieo trồng giống chống chịu bệnh.
- Tuyệt đối không dùng lúa đã bị bệnh để làm giống cho vụ sau.
- Phải sử lý hạt giống trước khi ngâm ủ.
- Vệ sinh thu gom sạch sẽ cỏ dại và tàn dư của cây lúa bị bệnh ở vụ trước đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế lây lan.
- Cày bừa kỹ để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu.
- Bón phân cân đối giữa đạm, lân và ka li, không bón quá thừa đạm để cây lúa sinh trưởng khỏe có sức chống đỡ với bệnh.
- Kiểm tra ruộng lúa thường xuyên, nhất là từ khi lúa đứng cái làm đòng trở đi, nếu phát hiện chớm có bệnh tạm thời tháo cạn nước ruộng 2-3 ngày để hạn chế sinh trưởng của cây, và dùng thuốc phun xịt kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên đối với bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Phú Xuyên (Hà Nội) thì thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là vì Linacin 40SL không chỉ là thuốc đặc trị vi khuẩn, mà còn là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, có phổ tác động rất rộng, ngoài bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa, thuốc còn có khả năng phòng và trị được nhiều bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Thuốc ít độc với người phun xịt và sử dụng nông sản phẩm, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 20ml Linacin 40SL/ bình 16 lít, pha xong phun 2 bình/ sào BB (360m2). Có thể phun vài lần, cách nhau khoảng 10-12 ngày/ lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo bà Phạm Thị Thơm, Nguyễn Thị Thạch, Nguyễn Thị Kim, xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên (Hà Nội) thì với liều lượng và cách phun xịt như trên không những hiệu quả phòng trị bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa rất tốt, mà còn làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
11. Làm sao hạn chế bệnh héo xanh vi khuẩn hại dưa hấu
Hỏi:
Không rõ tại sao gần đây cây dưa hấu ở vùng chúng tôi đang sinh sống rất xanh tốt thì đột ngột bị héo rũ, trong khi các lá vẫn còn xanh. Hiện tượng héo này chỉ xảy ra vào ban ngày khi trời nắng, còn ban đêm cây xanh trở lại, sau vài ngày như vậy cây không hồi phục nữa và chết. Xin cho biết đó là chứng bệnh gì, có thuốc nào phòng ngừa được chứng bệnh này?
-Vũ Thị Lụa và một số bà con ở Thường Tín (Hà Nội)-
Trả lời:
Qua mô tả, chúng tôi cho rằng cây dưa hấu ở chỗ các bạn đang bị bệnh héo xanh do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum gây ra.
Loài vi khuẩn này có sẵn trong đất xâm nhập vào rễ cây rồi phát triển rất nhanh trong mạch dẫn, ngăn cản sự hấp thu và vận chuyển nước nuôi cây. Làm cho cây dưa đang sinh trưởng bình thường thì đột ngột bị héo rũ xuống, trong khi lá dưa vẫn còn xanh (không chuyển thành màu vàng). Hiện tượng héo xảy ra vào ban ngày khi trời nắng, nhưng ban đêm cây tươi trở lại, sau vài ngày cây dưa không thể hồi phục lại được nữa và chết, trên gốc dưa có thể có vết nổi u sần. Mặc dù bộ lá của cây bị héo, nhưng phần gốc của cây vẫn rắn chắc (chứ không bị thối như một số bệnh do nấm gây ra).
Cắt ngang gốc thân cây bị bệnh, thấy các mạch dẫn bị nâu đen, bóp mạnh vào chỗ gần mặt cắt sẽ thấy tiết ra chất dịch vi khuẩn màu trắng đục. Nếu ngâm đoạn cắt vào ly nước, vài phút sau sẽ thấy dịch vi khuẩn màu trắng sữa đùn chẩy qua miệng cắt ra ngoài (đây là triệu chứng đặc trưng của bệnh héo xanh vi khuẩn để phân biệt với với các triệu chứng héo rũ do những tác nhân gây bệnh khác). Vi khuẩn có thể tồn tại trong tàn dư cây bị bệnh đến 7-8 tháng, trong đất đến trên một năm.
Thực tế đồng ruộng cho thấy, bệnh thường phát sinh, phát triển và gây hại mạnh khi thời tiết nắng nóng, ẩm ướt, ruộng bón dư thừa phân đạm khiến cây tốt lốp, ruộng chuyên canh lâu năm những cây thuộc họ bầu bí (dưa hấu, dưa chuột, dưa lê, bầu, bí...), họ cà (cà chua, cà pháo, cà tím...), họ đậu đỗ (đậu que, đậu cô ve...)...vì những loại cây này đều là ký chủ của bệnh.
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn phải áp dụng kết hợp nhiều biện pháp trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp, sau đây là một số biện pháp chính:
- Sau khi thu hoạch cần thu gom sạch sẽ tàn dư của cây dưa và rơm rạ phủ ruộng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan cho vụ sau.
- Cày phơi ải, bừa kỹ ruộng để chôn vùi bớt mầm bệnh xuống tầng đất sâu. Bón khoảng 25- 30kg vôi bột/ sào (360m2) để bổ xung can xi và khử trùng đất.
- Không nên trồng dưa hấu và những cây cùng ký chủ của bệnh liên tục nhiều năm liền trên cùng một thửa ruộng. Sau vài vụ trồng dưa nên luân canh một vài vụ với những cây trồng khác, để cắt đứt nguồn bệnh trên ruộng (tốt nhất là luân canh với một vụ lúa nước).
- Bón phân đầy đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali, tuyệt đối không bón thừa đạm làm cho cây tốt lốp. Hạn chế bón đạm khi thấy ruộng dưa chớm bị bệnh mà thời tiết lại đang phù hợp cho bệnh phát triển.
- Thường xuyên kiểm tra nhổ bỏ những cây bị bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan. Sau đó bón vôi vào gốc vừa nhổ để khử trùng đất.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên để phát hiệm sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc dùng để phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh héo xanh vi khuẩn hại cây dưa hấu, theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở phường Hải Dương (tỉnh Hải Phòng) thì thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng và trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, hiệu quả phòng trị bệnh rất cao. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng các bạn có thể pha 20ml Linacin 40SL / bình 16 lít, pha xong phun ướt đều tán lá. Phun định kỳ khoảng 10-12 ngày/ lần, cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo ông Phạm Văn Hùng, xã Thạch Khôi, phường Hải Dương (Hải Phòng) thì với liều lượng và cách phun xịt như trên sau khoảng 5-7 ngày là bệnh ngưng phát triển, không những hiệu quả phòng trị bệnh của thuốc rất cao mà còn làm cho thân cây cứng cáp, bộ lá xanh đẹp.
NGUYỄN DANH VÀN
12. Làm sao hạn chế bệnh héo xanh vi khuẩn hại lạc
Hỏi:
Đậu phộng ở vùng chúng tôi gần đây thường bị một chứng bệnh như sau ban đầu vào ban ngày khi trời nắng nóng thì cây bị héo rũ xuống (nhưng lá vẫn còn xanh), ban đêm cây lại phục hồi trở lại, sau đó vài ngày thì cây không phục hồi được và chết. Xin cho biết đó là chứng bệnh gì? Có cách nào hạn chế được căn bệnh này?
-Lâm Thị Bảo Thi và một số bà con ở Trảng Bàng (Tây Ninh)-
Trả lời:
qua mô tả chúng tôi cho rằng cây đậu phộng (cây lạc) ở chỗ các bạn đã bị bệnh héo xanh, bệnh này do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum (Ralstoria solanacearum) gây ra.
Đây là loài kí sinh đa thực rất phổ biến ờ vùng nhiệt đới, gây hại trên 30 loài thực vật khác nhau nên nguồn lây nhiễm rất sẵn trong tự nhiên. Vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại trong tàn dư cây bệnh và trong đất trên một năm, chúng dễ dàng xâm nhập vào cây thông qua các vết thương cơ giới hoặc vết chích của côn trùng ở thân, lá, rễ của cây, qua dụng cụ canh tác…Sau khi vào cây vi khuẩn tấn công vào mạch dẫn và di chuyển trong mạch dẫn rất nhanh, làm hư bó mạch, khiến hệ thống mạch dẫn không thể vận chuyển được nước và dinh dưỡng để nuôi cây dẫn đến hiện tượng cây bị héo và chết. Bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, và nhiệt độ cao.
Triệu chứng dễ nhận thấy là cây lạc đang sinh trưởng bình thường thì đột ngột bị héo rũ xuống (nhưng lá vẫn còn xanh), Lúc mới bị bệnh thì ban ngày khi trời nắng cây bị héo, còn ban đêm cây lại tươi trở lại, sau khoảng 2-3 ngày thì cây không thể tươi trở lại được nữa và chết dần, mạch dẫn trong thân rễ, cành đều biến màu thâm đen. Rễ và củ lạc về sau cũng bị thối. Bệnh hại nặng nhất vào giai đoạn lạc đâm tia, tạo quả .
Để hạn chế tác hại của bệnh, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom sạch sẽ tàn dư của cây lạc ở vụ trước, trước khi làm đất gieo trồng vụ sau.
- Cày lật và phơi khô kỹ đất trước khi trồng.
- Không bón quá nhiều phân đạm phải bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường phân hữu cơ hoai mục.
- Không nên để ruộng quá ẩm ướt.
- Nhổ bỏ những cây đã bị bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan.
- Trong quá trình chăm sóc, hạn chế tạo vết thương cơ giới cho cây lạc, đồng thời phòng trừ kịp thời những sâu hại để hạn chế môi giới truyền bệnh.
- Những ruộng thường xuyên bị bệnh gây hại nặng, nên luân canh với lúa một vài vụ.
- Kiểm tra ruộng dưa thường xuyên, nếu thấy bệnh chớm phát sinh thì dùng thuốc phun xịt kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc để phòng trị bệnh hại trên cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh héo xanh vi khuẩn hại lạc theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Lâm Đồng và Đắc Lắk thì thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ như vậy vì Linacin 40SL là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, thuốc có phổ tác động rất rộng, ngoài bệnh héo xanh vi khuẩn hại lạc, thuốc còn có khả năng phòng và trị được nhiều bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra. Thuốc ít độc, thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 20ml Linacin 40SL/ bình 16 lít, pha xong xịt 1,5-2 bình/ 1.000m2. Xịt định kỳ khoảng 10-12 ngày/ lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo ông Lê Văn Tỏ, thôn 14, xã Đak Krông, huyện Cư Jut (Lâm Đồng), vá các ông Đặng Ngọc Hưng và ông Nguyễn Đức Ty, thôn 2, xã Cư Knia, huyện Buôn Đôn (Đắc Lắk) thì với liều lượng và cách phun xịt như trên không những hiệu quả phòng trị bệnh héo xanh vi khuẩn rất tốt, mà còn làm cho ruộng lạc phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao hơn.
NGUYỄN DANH VÀN
13. Bệnh thối nhũn hại thanh long và cách phòng trị.
![]() |
![]() |
Hỏi:
Cây thanh long ở gia đình chúng tôi gần đây có nhiều nhánh bị tượng vàng úng, thối và có mùi hôi rất khó chịu, có nhánh bị thối rữa hoàn toàn, làm cây còi cọc, cho ít trái, trái nhỏ, nếu nặng cây sẽ không cho trái. Xin cho biết đó là chứng bệnh gì, có cách nào phòng trị được chúng?
-Nguyễn Văn Nha và một số bà con ở Châu Thành (Tây Ninh)-
Trả lời:
Hiện tượng nhánh thanh long bị thối mà các bạn mô tả chúng tôi cũng đã gặp ở những vườn thanh long ở Đồng Tháp, Lâm Đồng;, nhất là vào mùa mưa hoặc vào những thời gian có sương mù nhiều trong năm. Đây là một bệnh do vi khuẩn gây ra, vi khuẩn này xâm nhập vào trong cây thông qua các vết thương cơ giới trên cây như vết cắn phá của một số loài kiến, sâu hại, vết thương do cắt tỉa nhánh hàng năm, vết xây xát do các nhánh cọ quệt vào nhau, vết gãy nứt tự nhiên của những nhánh do mang quá nhiều trái nặng kéo xuống…
Sau khi xâm nhập vào bên trong cây vi khuẩn bắt đầu gây hại, nhân nhanh số lượng và lan rộng dần ra xung quanh, làm cho phần mô mềm của nhánh đang từ màu xanh chuyển dần sang màu vàng, mọng nước (úng nước) và thối nhũn, có mùi hôi thối khó ngửi. Cứ thế vết bệnh tiếp tục kéo dài lên phía trên và cả xuống phí dưới vị trí bị xâm nhiễm.
Nếu không phun xịt thuốc kịp thời, lại gặp điều kiện thời tiết mưa. ẩm bệnh có thể huỷ hoại hoàn toàn phần mô mềm của nhánh đó, sau đó phần mô mềm bị chết khô đi, chỉ còn lại phần “lõi gỗ” bên trong của nhánh, “lõi gỗ” này sẽ khô dần rồi mục gãy . Những cây bị hại nặng sẽ cho năng suất rất thấp do cho trái ít, trái nhỏ. Nếu bị hại nặng nhìn vườn thanh long thấy xơ xác và có thể không cho thu hoạch trái.
Để hạn chế tác hại của bệnh đến mức thấp nhất, các bạn có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp chính sau đây:
- Phải thiết kế liếp trồng hình mai rùa và có xẻ rãnh thoát nước để vườn không bị đọng nước, ẩm ướt trong mùa mưa.
- Không lấy nhánh ở những cây đã bị bệnh để làm giống cho vườn khác.
- Khi tỉa nhánh để làm giống nên hạn chế việc cắt ngang ở chỗ phần mềm của nhánh, nên chọn chỗ tóp nhỏ lại của nhánh để cắt. Sau khi cắt không được đem giâm trồng ngay mà nên lấy vôi bôi vào chỗ vết cắt, sau đó chờ cho chỗ vết cắt khô nhựa rồi mới đem trồng.
- Không nên trồng khoảng cách quá dày, để tạo cho vườn luôn thông thoáng.
- Khi cây thanh long chưa giao tán, không nên trồng xen để “lấy ngắn nuôi dài” bằng một số loại cây thường hay bị loại bệnh này gây hại như cây bắp cải, cây tần ô, hành…
- Trong quá trình chăm sóc, cố gắng hạn chế việc tạo ra những vết thương cơ giới cho cây.
- Nếu thấy có nhiều kiến trên cây hoặc dưới gốc cần phun thuốc diệt kiến trên cây (bằng những loại thuốc trừ sâu thông thường). Dọn sạch cỏ rác, lá cây mục…xung quanh gốc thanh long để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến.
- Nếu vườn thường bị bệnh hại nặng, sau mỗi lần tỉa nhánh nên dùng vôi bôi vào chỗ vết cắt, không nên cắt tỉa nhánh vào những ngày trời có mưa.
- Thường xuyên làm vệ sinh sạch sẽ cỏ dại trong vườn, cắt tỉa bỏ những nhánh già thòng xuống dưới giàn không có khả năng cho trái để vườn luôn thông thoáng, khô ráo.
- Những nhánh đã bị bệnh gây hại nặng nên cắt bỏ rồi dùng vôi nhão bôi lên vết cắt.
- Kiểm tra vườn thanh long thường xuyên (nhất là vào mùa mưa) để phát hiện sớm và phun thuốc phòng trị bệnh kịp thời.
Về thuốc, hiện nay có khá nhiều loại thuốc phòng trị bệnh hại cây trồng. Tuy nhiên, đối với bệnh thối nhũn hại thanh long theo kinh nghiệm của nhiều bà con ở Chợ Gạo (Đồng Tháp) thì thuốc Linacin 40SL đã cho hiệu quả rất cao.
Sở dĩ có kết quả như vậy là vì Linacin 40SL là thuốc đặc trị bệnh vi khuẩn, với phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh cây. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Điều đặc biệt là loại thuốc này ít độc, nên ít gây hại cho người phun xịt và thân thiện với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
Về liều lượng, các bạn có thể pha 20ml Linacin 40SL/ bình 16 lít/ pha xong phun ướt đều tán cây, có thể phun vài lần (cách nhau khoảng 7-10 ngày/ một lần) cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo các ông Nguyễn Văn Tám, Nguyễn Văn Ba, ấp Long Thạnh, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo (Đồng Tháp), thì với liều lượng pha chế và cách sử dụng như trên, không những thuốc có hiệu quả rất cao với bệnh thối cành (thối nhũn) thanh long, mà còn làm cho cây thanh long sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng trái cao.
NGUYỄN DANH VÀN
14. Kinh nghiệm dùng thuốc phòng trị bệnh bạc lá hại lúa
(Của nông dân Ninh Bình)
![]() |
![]() |
Bạc lá lúa là một trong vài bệnh hại quan trọng thường gặp trên ruộng lúa ở nước ta, nhất là ở những vụ lúa nằm trong mùa mưa bão. Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây ra. Bệnh có thể phát sinh và gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, nhưng thường nặng nhất từ khi lúa đứng cái làm đòng trở đi.
Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào trong cây lúa qua khí khổng, thủy khổng ở chóp lá, mép lá, đặc biệt là qua vết thương cơ giới, vì thế vết bệnh đầu tiên thường ở mép lá, chóp lá, sau lan dần xuống phiến lá hoặc vào gân chính.
Ban đầu vết bệnh có màu xanh tối, sau chuyển dần sang vàng lục, rồi nâu xám hoặc trắng bạc. Ranh giới giữa chỗ bị bệnh và không bị bệnh thường là một đường gợn sóng màu vàng rơm.
Vào sáng sớm hoặc những ngày có mưa ẩm, có thể thấy xuất hiện những giọt keo vi khuẩn màu vàng ứa ra từ chỗ bị bệnh, vi khuẩn từ những giọt keo này thông qua sự va chạm giữa các lá lúa với nhau mà lây lan sang các lá khác.
Nếu bị hại nặng, bệnh có thể làm lá lúa bị “cháy” khô, khiến cây lúa còi cọc không trỗ thoát, hoặc nếu có trỗ được thì cũng bị lép lửng rất cao, gây thất thu năng suất nghiêm trọng.
Bệnh thường phát sinh, phát triển và gây hại mạnh khi nhiệt độ không khí khoảng 25-30 độ C, ẩm độ trên 90%, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết có mưa to, gió lớn hoặc bão. Những ruộng gieo cấy giống nhiễm, những ruộng lúa tốt lốp, những ruộng sau đứng cái làm đòng... là những ruộng bị bệnh gây hại nhiều hơn các ruộng khác.
Để hạn chế tác hại của bệnh, ngoài các biện pháp về vệ sinh đồng ruộng, dùng giống lúa ít nhiễm bệnh, bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, không bón thừa đạm...thì theo kinh nghiệm của nhiều nông dân ở huyện Ý Yên (Ninh Bình) là phải kiểm tra ruộng lúa thường xuyên, nếu thấy ruộng lúa chớm bị bệnh cần ngưng bón đạm, tăng cường thêm kali, rồi phun xịt thuốc kịp thời.
Về thuốc, theo bà Phạm Thị Mai (thôn Cẩm, xã Yên Dương), ông Đinh Văn Tiềm, Nguyễn Trí Công (thôn Cổ, xã Yên Bằng), huyện Ý Yên, (Ninh Bình) với liều lượng 20ml Linacin 40SL/ bình 18 lít, phun 1 bình/ 1 sào BB (360m2) không những thuốc đã cho hiệu quả phòng trị bệnh rất cao, mà còn làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất hơn hẳn những ruộng khác.
Có được kết quả như vậy bởi vì Linacin 40SL là thuốc có phổ tác động rất rộng, có khả năng phòng trị được nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh hại cây trồng, hiệu quả phòng trị bệnh của thuốc rất cao. Ngoài ra, đây còn là thuốc trừ bệnh sinh học thế hệ mới, nên ít độc hại với môi trường, rất phù hợp với chương trình IPM để xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững ở nước ta hiện nay.
NGUYỄN DANH VÀN
15. LOÉT CAM, BỆNH CŨ MÀ KHÔNG CŨ TẠI VÙNG CAM LÂU NĂM
Hàm Yên, ngày 17 tháng 07 năm 2017
Cây cam sành đã được trồng từ lâu trên vùng đất Hàm Yên, Tuyên Quang. Có lẽ khí hậu, điều kiện thổ nhưỡng ở đây hợp cho cam sành phát triển và cho chất lượng ngon, mang hương vị đặc trưng riêng, vị ngọt cũng khác hẳn vùng khác. Ngày nay, những vườn cam đã mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân Hàm Yên, nhiều vườn có doanh thu từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm.
Tuy nhiên, bệnh loét trên cam đã gây nhiều thiệt hại cho người dân. Bài viết này nói về bệnh đó và kinh nghiệm phòng trừ của bà con nông dân địa phương trên.
Bệnh loét cam - do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri (Hasse) (Vauterin, 1995) gây ra. Bệnh phá hoại tất cả các bộ phận còn non trên mặt đất của cây: lá, quả, cành, gai và thậm chí cả phần rễ nổi lên trên mặt đất. Các lá và cành non thường bị nhiễm bệnh trong vòng 10 – 20 ngày sau khi chồi bắt đầu phát triển. Bệnh làm rụng lá. Quả bị bệnh thường rụng sớm và có phẩm cấp thấp. Cây con trong vườn ươm bị bệnh thường chết sớm. Cây trưởng thành bị bệnh còi cọc.
Triệu chứng gây hại.
Ở lá non, triệu chứng bệnh ban đầu là những chấm nhỏ như đầu kim thường thấy ở mặt dưới của lá có đường kính trên dưới 1mm, màu vàng nhạt (bệnh xuất hiện khoảng 7 ngày sau khi xâm nhiễm). Sau đó vết bệnh lan rộng và phá vỡ biểu bì mặt dưới lá, có màu trắng nhạt hoặc nâu nhạt. Lúc này vết loét có thể nhìn thấy trên bề mặt lá phía trên. Quanh vết bệnh có quầng màu vàng sáng. Trên những mô bị bệnh hình thành vết bệnh có gờ xung quanh cao và phần trung tâm hơi lõm xuống (như miệng núi lửa).
Lá bệnh không biến đổi hình dạng nhưng dễ rụng nhất là lá của cây con bị bệnh nặng.
![]() |
![]() |
![]() |
| Vết bệnh trên lá | ||
Vết bệnh ở quả cũng tương tự như ở lá. Có lớp vảy cứng trên bề mặt quả, xù xì màu nâu đậm, mép ngoài có gờ nổi lên, ở giữa vết bệnh xuất hiện những vết nứt. Toàn bộ chiều dày của vỏ quả có thể bị loét, nhưng không ăn sâu > 1 – 3cm. Bệnh nặng có thể làm cho quả biến dạng, tép khô, dễ rụng sớm. Bệnh làm giảm phẩm cấp quả.
![]() |
![]() |
![]() |
| Vết bệnh trên quả | ||
Vết bệnh ở cành và thân cây con cũng giống như ở trên lá, nhưng sùi lên tương đối rõ ràng. Ở giữa vết bệnh lõm không rõ rệt, xung quanh không có quầng vàng. Vết bệnh rất lớn, nối liền với nhau bao quanh thân non và cành làm cho phần phía trên bị khô héo, dễ gãy. Các vết bệnh nhỏ thường nổi ghồ lên (mũi tên). Vết bệnh còn xuất hiện ở gai cũng giống như ở cành cây.
![]() |
![]() |
![]() |
| Vết bệnh trên cành, thân, gai | ||
Điều kiện phát sinh phát triển.
Vi khuẩn gây bệnh tồn tại trên tàn dư lá, quả, thân, cành cây đã bị bệnh. Vi khuẩn lan truyền nhờ tác nhân cơ giới, gió, nước mưa. Do đó, bệnh thường gây hại nặng trong điều kiện thời tiết ẩm, mùa mưa.
Vi khuẩn có thể xâm nhiễm qua vết thương hay khí khổng ở các bộ phận của cây. Lá, cành non, trái thường bị nhiễm qua khí khổng khi có sương hay mưa làm ướt vết bệnh, vi khuẩn trong vết bệnh sẽ ứa ra và từ đó nhờ gió, nước mưa, côn trùng (sâu vẽ bùa) mà làm cho bệnh lây lan.
Vi khuẩn xâm nhập qua khí khổng (ảnh chụp qua kính hiển vi)
Những đường đục của sâu vẽ bùa (bên phải) và vết loét vi khuẩn phát triển từ các vết hại (bên trái).
Bệnh phát sinh từ lộc xuân (tháng 3), phát triển mạnh đến lộc hạ (tháng 7 và 8) rồi đến lộc đông (tháng 10 và 11) thì bệnh giảm dần và ngừng phát triển. Tuổi cây càng non càng dễ bị nhiễm bệnh nặng, nhất là ở vườn ươm ghép cây giống thường bị bệnh nặng trong 1 – 2 năm đầu, cam từ 5 – 6 tuổi tỉ lệ bị bệnh thấp hơn.
1 – Gió đưa những giọt nước mưa có vi khuẩn đến những bộ phận không mang bệnh của cây.
2 – Vi khuẩn theo giọt nước thâm nhập vào phần thịt lá hoặc qua khí khổng mô khỏe.
3 – Vi khuẩn có thể xâm nhiễm qua lá, quả và thân thân non.
4 – Vi khuẩn xâm nhập qua các vết thương cơ giới.
5 – Các hoạt động tạo tán, tỉa cành hoặc các hoạt động chăm sóc gây những vết thương cơ giới tạo điều kiện cho lây nhiễm nhân tạo.
6 – Giọt nước (do mưa, tưới hoặc sương) phát tán vi khuẩn đến các bộ phận không bị bệnh của cây.
7 – Vết bệnh xuất hiện với các mô nhô cao bao quanh vùng trung tâm hơi lõm xuống. Quầng vàng nhạt bao quanh vết bệnh.
8 – Giọt nước mưa bắn lên cùng với mầm bệnh tiếp tục được phát tán bởi gió.
Biện pháp phòng trừ.
a. Biện pháp canh tác.
Cây giống phải bảo đảm sạch bệnh.
Mật độ trồng theo đúng quy trình. Vườn cam thường xuyên được cắt tỉa, tạo tán bảo đảm thông thoáng. Các cành bệnh được cắt bỏ kịp thời và tiêu hủy. Các dụng cụ cắt, tỉa phải được xử lý trước và sau khi sử dụng.
Những vườn bị bệnh không tưới phun lên tán cây vào buổi chiều mát, không tưới quá đẫm.
Tránh tạo vết thương cơ giới trong quá trình chăm sóc. Phòng trừ sâu vẽ bùa.
Bón phân cân đối NPK. Tăng cường bón thêm phân Kali cho vườn cây đang bị bệnh. Không bón đạm và phân bón lá khi bệnh đang phát triển gây hại.
Lưu ý: Cần thăm vườn trồng thường xuyên để kịp thời có những biện pháp phòng trừ thích hợp.
b. Phun thuốc phòng trừ.
Theo kinh nghiệm của bà con thì các loại thuốc dùng để phòng loét cam thường được sử dụng là nhóm thuốc có chứa gốc đồng. Phun phòng từ khi hoa tàn đến quả non (50 – 60 ngày) với khoảng cách 7 – 10 ngày. Kết hợp phun trừ sâu vẽ bùa để phòng sự lây lan của bệnh.
Thông qua quá trình điều tra thực tế, tìm hiểu các sản phẩm phòng loét cam được bà con tin cậy tại các xã Phù Lưu, Tân Thành thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Hảo thuộc huyện Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi thấy rằng hiệu quả phòng trừ loét cây cam cao nhất khi sử dụng sản phẩm Linacin 40SL (Kasugamycin 2g/l + Ningnamcin 38g/l) của công ty Cổ Phần Nông Dược Việt Nam với quy trình 2 - 3 đợt phun/ năm:
+ Đợt 1: Đầu mùa mưa, hoa tàn – đậu quả non (tháng 3 – 5 dương lịch) phòng trừ loét lây lan vào lộc non và quả.
+ Đợt 2: Giữa mùa mưa (tháng 7 – 8 dương lịch) phòng trừ giai đoạn lộc chính lứa quả năm tới.
+ Đợt 3: Cuối mùa mưa (tháng 10 – 11 dương lịch) phòng trừ giai đoạn lộc cuối năm tránh lây lan sang quả.
Theo anh Nông Văn Nghiệp (01663224...) xã Phù Lưu, cô Tạ Thị Thu (0916640...) xã Tân Thành huyện Hàm Yên, Tuyên Quang thì sau thời gian sử dụng sản phẩm Linacin 40SL của công ty Cổ Phần Nông Dược Việt Nam với liều lượng 240ml thuốc/ 200 lít nước; phun ướt toàn bộ cây bằng máy phun thuốc áp lực cao với 2 lần phun hiệu quả phòng trừ bệnh cao đạt > 95%. Bệnh dừng, lộc mới không bị lây lan.
![]() |
![]() |
Vết bệnh trên quả và lá sau khi sử dụng thuốc Linacil 40SL.
Anh Nông Văn Nghiệp cho biết lần đầu anh sử dụng sản phẩm Linacin 40SL, sau 3 ngày thăm vườn đã thấy bệnh dừng phát triển, không thấy lây lan mạnh như trước dù hôm phun gặp mưa nhỏ. Qua đó thấy Linacin 40SL có hiệu quả nhanh và ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Cô Tạ Thị Thu sử dụng cho vườn cam giống đang bị nhiễm bệnh rất nặng cũng đánh giá rất cao sản phẩm Linacin 40SL so với các sản phẩm gốc đồng hay các sản phẩm khác đã được giới thiệu.
Cô Tạ Thị Thu (xã Tân Thành, huyện Hàm Yên).
Nguyễn Thế Hồng
(Phòng Kỹ thuật)
Tài Liệu Tham Khảo
1.Vũ Triệu Mân (2007). Bệnh loét cam [Xanthomonas citri (Hasse) Dowson]. Bệnh cây chuyên khoa . Trường đại học nông nghiệp I , Hà Nội. Tr 153-157.
Vi khuẩn gây bệnh loét cam còn có các tên khác như: Bacillus citri (Hasse) Holland 1920; Bacterium citri (Hasse) Doidge 1916; Phytomonas citri (Hasse) Bergey et al., 1923; Pseudomonas citri Hasse 1915; Xanthomonas axonopodis pv. aurantifolii Vauterin et al., 1995; Xanthomonas axonopodis pv. citri (ex Hasse 1915) Vauterin et al., 1995; Xanthomonas campestris pv. aurantifolii Gabriel et al., 1989; Xanthomonas campestris pv. citri (Hasse 1915) Dye 1978; Xanthomonas citri f.sp. aurantifolia Namekata & Oliveira 1972; Xanthomonas citri ssp. citri Schaad et al. 2005; Xanthomonas fuscans ssp. aurantifolii Schaad et al. 2005.
16. CÁCH PHÒNG CHỐNG ĐẠO ÔN LÚA TẠI CẦN THƠ VÀ AN GIANG

Cần Thơ, ngày 23 tháng 7 năm 2017
Bệnh đạo ôn là một trong những dịch hại nguy hiểm trên lúa. Ở nước ta, đặc biệt là vùng ĐBSCL (Cần thơ, An Giang,…) bệnh diễn ra hết sức phức tạp và khá phổ biến qua các vụ lúa trong năm (Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông) gây thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng lúa gạo nếu không phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời.
Tác nhân, triệu chứng và điều kiện phát sinh:
Bệnh đạo ôn hay “cháy lá” do nấm Pirycularia oryzae Cav. gây ra. Trên lá vết bệnh ban đầu có đốm nhỏ hình tròn “chấm kim” hoặc bầu dục có màu xanh xám, về sau vết bệnh lan rộng ra như hình thoi, nhọn ở hai đầu như hình “mắt én”, xung quang viền nâu ở giữa có tâm xám trắng. Khi bệnh nặng các vết bệnh nối liền nhau thành mảng lớn, lúa bị bệnh nặng có thể làm cháy rụi từng đám hay nông dân gọi là “sụp mặt”. Nguy hiểm nhất là khi nấm tấn công trên cổ bông, cổ gié, hạt làm cho toàn bộ bông, cổ gié bị khô, gãy gục và hạt bị lép...
Bệnh đạo ôn thường phát sinh và gây hại khi điều kiện thời tiết thuận lợi như trời âm u, ít nắng mưa xen kẽ, sương mù nhiều vào ban đêm và sáng sớm. Theo nông dân Cao Ngọc Văn (ở Thạnh An – Vĩnh Thạnh – Cần Thơ), ngoài những yếu tố trên, bệnh còn gây hại nặng trên những ruộng lúa vụ trước bị nhiễm bệnh nặng, ruộng sử dụng giống nhiễm bệnh (như Jasmine 85, IR50404, OM4218,…), gieo sạ dày và bón thừa đạm (lá có màu xanh đậm và rũ xuống “rợp lá”),...
Biện pháp quản lí bệnh đạo ôn hiệu quả được bà con nông dân áp dụng:
Theo nông dân Lê Văn Năm có gần 40 năm trồng lúa ở Khu vực Thới Bình 2 – Thuận An – Thốt Nốt – Cần Thơ, để quản lí bệnh đạo ôn hiệu quả thì không khó, việc làm đầu tiên là không sạ quá dày, thứ 2 là không bón dư phân “lạnh” (phân đạm) làm cho lá bị rũ, màu xanh đen (dễ bị bệnh), bón phân làm sao giữ cho lúa có màu vàng chanh là tốt nhất như vậy thì vừa ít bệnh lại vừa ít sâu. Thứ 3 là phải nắm được đặc tính của từng giống, ví dụ: như giống OM4218 thường bị đạo ôn lá nặng nên chủ động phun phòng ở giai đoạn 18 – 20 ngày sau sạ, phun phòng đạo ôn cổ bông khi lúa trổ lẹt xẹt và trỗ đều.
Ruộng đã phát hiện bệnh thì phải can thiệp bằng thuốc hóa học đặc trị, một số hoạt chất thường được nông dân sử dụng như: Tricyclazole + Propiconazole, Tricyclazole đơn có hàm lượng cao, Isoprothiolane hay Fenoxanil... Cần phải kết hợp thêm thuốc vi khuẩn Kasugamycin hay Kasugamycin + Ningnamycin ... cho nước vào ruộng trước khi phun thuốc, sau khi phun giữ nước khoảng 1 – 2 ngày, tháo nước ra cho nước mới vào, như vậy bệnh sẽ mau khỏi hơn.
Theo kinh nghiệm của nông dân Cao Ngọc Văn (01292921119) ở Thạnh An – Vĩnh Thạnh – Cần Thơ, khi trên ruộng xuất hiện khoảng 20 – 25% lá bị bệnh thì cần phải phun kép (phun 2 lần, cách nhau 5 ngày), sử dụng thuốc Tilbis super 550SE (Tricyclazole 400g/l + Propiconazole 150gr/l) liều lượng 40 – 50ml/ bình 25 lít nước kết hợp với Linacin 40SL (Kasugamycin 2g/l + Ningnamycin 38g/l) liều lượng 40ml/bình 25 lít nước, phun 1,5 bình cho 1296m2. Phun bằng bét nhuyễn (tơi sương). Sau 5 ngày phun lần 2 thì thấy các vết bệnh khô hẳn, các lá mới lên không có vết bệnh.
Anh Văn còn chia sẻ thêm: Tilbis super 550SE kết hợp với Linacin 40SL ngoài phòng trị bệnh đạo ôn hiệu quả, còn giúp lúa “kéo lá” (lá mới ra nhanh hơn), lá xanh mướt hơn các loại thuốc anh thường sử dụng.
Trần Văn Dủng
Phòng kỹ thuật
17. Phòng trừ đốm nâu gây hại chanh dây ở Gia Lai

Gia Lai, ngày 18 tháng 7 năm 2017
Cùng với hương vị chua chua, ngọt mát, thơm dịu, chanh dây là thức uống yêu thích của rất nhiều người. Loại quả này chứa vitamin A, vitamin C, sắt, kali và các thành phần dinh dưỡng rất có lợi cho sức khỏe.
Tuy nhiên để sản xuất ra những trái chanh dây mẫu mã đẹp, chất lượng tốt thì người nông dân đã phải bỏ công sức rất nhiều trong việc phòng trừ dịch hại. Một trong các đối tượng nguy hiểm là bệnh đốm nâu.
![]() |
![]() |
1. Triệu chứng
Gây hại trên nhiều bộ phân của cây như lá, thân, quả.
Trên lá: Vết bệnh xuất hiện đầu tiên với những đốm nâu nhỏ (đốm mắt cua), sau đó lan rộng ra rồi phát triển thành các đốm có màu sáng hơn. Vết bệnh ban đầu hình tròn nhưng khi bệnh phát triển mang hình dạng bất định.
![]() |
![]() |
![]() |
Hình1. Vết bệnh xuất hiện trên lá
Trên quả: Bệnh ban đầu xuất hiện với những vết tròn nhỏ như mũi kim, sau đó lan rộng ra, bề mặt vết bệnh lõm xuống, lớn dần và có tâm màu nâu. Khi phát triển, vết bệnh sẽ lan rộng, quả trở nên mềm nhũn, mẫu mã xấu, dễ rụng.
![]() |
![]() |
![]() |
Hình 2. Vết bệnh xuất hiện và gây hại trên quả
Trên thân cây, vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở gần nách lá và từ đó lan dọc theo dây (thân) tạo thành vết bệnh màu nâu sẫm dài 20 – 30cm. Khi các vết bênh này phát triển có thể tạo thành một đai bao quanh dây làm cho ngọn dây đó bị héo, hoa và quả sớm bị rụng.
![]() |
![]() |
2. Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh đốm nâu là do nấm có tên khoa học là Alternaria passiflorae.
3. Phát sinh gây hại:
Ở Gia Lai, bệnh bắt đầu phát sinh và gây hại từ tháng 6 đến 8 (khi thời tiết bắt đầu chuyển sang mùa mưa). Các cơn mưa kéo dài khiến cho ẩm độ trong vườn tăng cao, nấm và vi khuẩn có cơ hội phát triển mạnh làm bệnh lây lan trên diện rộng.
Giống chanh dây vỏ vàng chống chịu bệnh tốt hơn giống chanh dây vỏ màu tím và các giống lai giữa màu tím và màu vàng.
4. Biện pháp phòng trừ:
a. Biện pháp canh tác.
Trồng cây với khoảng cách hợp lý tạo điều kiện thông thoáng làm cho bộ lá nhanh chóng khô sau mưa, tưới.
Trước khi thời tiết bắt đầu chuyển dần sang mùa mưa, cần chú ý cắt tỉa cành, làm cho vườn thoáng đãng. Tiêu hủy tàn dư. (Lưu ý, các loại nấm có thể vẫn còn sống trong đất suốt vụ).
Làm sạch cỏ dại nhất là các cây cùng họ như Passiflora subpeltata (một loài thực vật có hoa trong họ Lạc tiên. Ảnh bên trái) và cây lạc tiên – Passiflora foetida (người dân Nam Bộ hay gọi là cây/dây chùm bao. Ành bên phải).
![]() |
![]() |
Lưu ý: Cần thăm vườn thường xuyên để có biện pháp phòng trừ dịch bệnh kịp thời tránh lây lan, nên phun thuốc khi bệnh chớm xuất hiện.
b. Phun thuốc phòng trừ.
Thông qua quá trình điều tra thực tế, tìm hiểu các sản phẩm phòng trừ bệnh đốm nâu được bà con tin cậy tại thị trấn Kon Tầng của huyện MangYang tỉnh Gia Lai, chúng tôi thấy rằng hiệu quả phòng trừ bệnh đốm nâu cao nhất khi sử dụng bộ đôi sản phẩm Tilgent 450SC (Azoxystrobin 270g/l + Difenoconazole 180g/l) + Linacin 40SL (Kasugamycin 2g/l + Ningnanmycin 38g/l) của Công ty Cổ Phần Nông Dược Việt Nam với quy trình 4 lần phun:
+ Lần 1: Đầu mùa mưa, khi bệnh chớm xuất hiện. (Trong khoảng tháng 5 đến tháng 6).
+ Lần 2: Sau lần phun đầu tiên 7-10 ngày.
+ Lần 3: Nếu trong mùa mưa với thời tiết mưa liên tục, kéo dài trong nhiều ngày, cần tiến hành phun phòng ngay để tránh bệnh lan rộng.
+ Lần 4: Sau lần phun thứ 3 từ 7-10 ngày.
Theo ông Nguyễn Văn Minh (09352406...) thị trấn Kon Tầng huyện MangYang, Gia Lai thì sau thời gian sử dụng sản phẩm Tilgent 450SC và Linacin 40SL của Công ty Cổ Phần Nông Dược Việt Nam với liều lượng 160ml Tilgent 450SC + 120ml Linacin 40SL /200 lít/ 2500m2 phun ướt toàn bộ cây bằng máy phun thuốc với quy trình 4 lần/ năm mang lại hiệu quả phòng trừ bệnh cao. Ngoài ra, thuốc còn làm bóng trái, lá xanh mướt và tươi hơn.
Hình 3. Vết bệnh đã khô lại và ngừng phát triển sau khi phun
Ông Dương Văn Minh cho biết: Sau khi phun, trong khoảng 5-7 ngày sau ông để ý thì vết bệnh đã khô lại, không còn lan rộng nữa. Sau 7 ngày, ông tiếp tục phun thêm một đợt nữa thì bệnh đứng hẳn, vết bệnh khô, trái bóng và lá xanh hơn.
Hình 4. Vườn chanh dây của ông Minh (giữa)
Huỳnh Trung Thắng
(Phòng kỹ thuật)
























